Màu Tím Hoa Sim Nàng có ba người anh đi bộ đội Những em nàng Có em chưa biết nói Khi tóc nàng đang xanh Tôi người vệ quốc quân xa gia đình Yêu nàng như yêu người người em gái. Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới Tôi mặc đồ quân nhân Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân Nàng cười xinh xinh Bên anh chồng độc đáo Tôi ở đơn vị về cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại Lấy chồng thời chiến binh Mấy người đi trở lại Lỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê. Nhưng không chết người trai khói lửa Mà chết người gái nhỏ hậu phương.
Tôi về không gặp nàng Má ngồi bên mộ con đầy bóng tối Chiếc bình hoa ngày cưới Thành bình hương tàn lạnh vây quanh Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy búi Em ơi giây phút cuối Không được nghe nhau nói Không được nhìn nhau một lần Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím Áo nàng màu tím hoa sim Ngày xưa một mình đèn khuya bóng nhỏ Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa...
Một chiều rừng mưa Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc Biết tin em gái mất Trước tin em lấy chồng Gió sớm thu về rờn rợn nước sông Đứa em nhỏ lớn lên Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị Khi gió sớm thu vàng cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân qua những đồi sim Những đồi sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim Tím chiều hoang biền biệt Nhìn áo rách vai tôi hát trong màu hoa (áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...) Hữu Loan
Mời các bạn đọc lại bài thơ nổi tiếng của Hữu Loan, do lời thuật thật cảm động của chính tác giả.
Hữu Loan Tự Thuật
Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học.
Đến năm 1938 - lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi - Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn, Đỗ Thiện và …tôi - Nguyễn Hữu Loan.
Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.
Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái - lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: "Em chào thầy ạ!" Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời.
Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một "bà cụ non". Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt .....
Có lần tôi kể chuyện "bà cụ non" ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành... Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa. Chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ...
Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: "Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu" Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi .....
Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:
-Thầy có thích ăn sim không ?
Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ....Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.
-Thầy ăn đi.
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:
-Ngọt quá. Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì....tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!
Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi... lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi...Tôi quay đầu nhìn lại... em vẫn đứng yên đó ... Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa...
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ ...
Chín năm sau, tôi trở lại nhà...Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp....
Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ, vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm "soạn kịch bản".
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: "yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả". Tôi cao ráo, học giỏi, làm thơ hay...lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!
Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại.....Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.
Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.
Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn....Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:
Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội Những em nàng có em chưa biết nói "Khi tóc nàng đang xanh ..." ... Tôi về không gặp nàng...
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa... Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.
Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang "ở nhà trông vườn" ở làng Nguyên Hoàn - nơi tôi gọi là chổ "quê đẻ của tôi đấy" thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.
Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu :
Chiều hành quân, qua những đồi sim Những đồi sim, những đồi hoa sim Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt Và chiều hoang tím có chiều hoang biết Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi "hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi". Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi! Đó là thời năm 1955 - 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn.
Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng....
Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông ... Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?
Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán.
Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi...
Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi!
Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956, khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc.Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955.
Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.
Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết!
Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.
Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó, xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.
Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói.
Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi. Hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.
Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no....Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con - 6 trai, 4 gái - và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì. Năm 1988, tôi "tái xuất giang hồ" sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi Xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí - xuất bản và đổi mới thực sự.
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyền bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia "lộc" cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.
Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.
Chương trình VHNT tuần này Mặc Lâm xin gửi đến quý vị bài viết về cố thi sĩ Hữu Loan, tác giả bài thơ Màu Tím Hoa Sim bất hủ vừa từ trần vài hôm trước, tại quê nhà của ông.
Thi sĩ Hữu Loan trên sân gạch trước nhà ông (2006)
Hôm nay chúng tôi xin được trình bày một ít chi tiết về cuộc đời nhà thơ Hữu Loan, từ khi ông bước vào lãnh vực thi ca để rồi sau đó không lâu chạm trán với những nghiệt ngã mà ông phải chịu đựng suốt hơn 50 năm trong chế độ mà ông từng hết lòng thiết tha phục vụ.
Không hề cúi đầu
Hữu Loan sinh năm 1916 tại thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa. Ông học thành chung ở Thanh Hóa sau đó đi dạy học tư kiếm sống. Tham gia cách mạng từ năm 1936, hoạt động phong trào Mặt trận Bình dân tham gia Việt Minh ở thị xã Thanh Hóa.
Ông kiên cường chịu đựng nghèo khó mà không hề cúi đầu trước thế lực của những người trước đây là đồng chí nhưng nhìn ông với đôi mắt thù hằn lẫn ngờ vực.
Năm 1943, Hữu Loan về Nga Sơn gây dựng phong trào Việt Minh ở quê ông. Giữ chức Phó Chủ tịch Ủy Ban Khởi Nghĩa huyện Nga Sơn, sau đó làm Ủy viên văn hóa trong Ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính trong kháng chiến chống Pháp.
Trong khoảng thời gian 1956-1957, Hữu Loan tham gia Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm. Ông sáng tác những tác phẩm lên án thẳng thắn và quyết liệt đến những tiêu cực của các cán bộ nịnh hót, đố kỵ, tham nhũng hay ám hại lẫn nhau để thăng quan tiến chức.
Sau khi phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958, nhà thơ Hữu Loan bị cải tạo vài năm, tiếp đó bị giam lỏng tại địa phương suốt nhiều chục năm không được góp tiếng nói hay tác phẩm với đời. Ông kiên cường chịu đựng nghèo khó mà không hề cúi đầu trước thế lực của những người trước đây là đồng chí nhưng nhìn ông với đôi mắt thù hằn lẫn ngờ vực.
Ông mất vào ngày 18 tháng 3 năm 2010 tại nhà riêng thọ 95 tuổi.
Tác phẩm của Hữu Loan không nhiều trong đó gồm Màu tím hoa sim, Đèo Cả, Yên mô, Hoa lúa, Tình Thủ đô… và tập Thơ Hữu Loan.
Người không biết ông thì “Màu Tím Hoa Sim” là cầu nối dẫn họ tới nhà thơ. Với người biết ông thì bài thơ này chưa phải là đáng nói so với nhân cách của ông, một nhân cách trung thực đến cứng cỏi đáng làm tấm gương soi cho trí thức trong nhiều giai đoạn.
Hữu Loan sống và đồng hành với Cách mạng từ lúc thành công cho tới khi cũng chính Cách mạng tiêu diệt niềm tin, tính tự trọng và đau đớn hơn hết là đã làm nhiều người trở thành vô cảm trước các nỗi đau của xã hội.
Người đi bộ ngược chiều
Tuy chỉ là một nhà thơ nhưng Hữu Loan đứng bật dậy không khoan nhượng với chế độ. Nói theo cách nói của nhà thơ Nguyễn Thụy Kha thì Hữu Loan là người đi bộ ngược chiều. Chiều của dòng chảy thuần tính xã hội chủ nghĩa, chiều của a dua hay im lặng. Chiều của muôn vàn cái ác cái xấu nay đã trở thành bình thường và được nhiều người dửng dưng chấp nhận.
Hữu Loan không chấp nhận. Hơn thế ông còn lớn tiếng phê phán, thậm chí mạt sát và sau đó chấp nhận về nhà còng lưng gánh đá nuôi con. Ông chấp nhận oằn lưng dưới đá nhưng không chấp nhận cúi đầu trước những con người mà ông cho là điếm nhục, khi ngày ngày đếm đồng tiền vấy bẩn bằng mồ hôi, nước mắt của nhân dân do vị thế mà họ nắm giữ.
Nhà thơ Bùi Minh Quốc ngậm ngùi kể lại lần ông gặp Hữu Loan đầu tiên tại Lâm Đồng. Lần gặp đó cũng là lần đầu nhà thơ của chúng ta rời khỏi Nga Sơn Thanh Hóa sau nhiều chục năm câm nín.
“Lần đầu tiên tôi gặp anh Hữu Loan trong một giờ phút rất đặc biệt. Đó là lúc khai mạc đại hội Hội Văn Nghệ Lâm Đồng.Khi tôi đang ngồi trên chủ tịch đoàn thì anh em bên ngoài đưa vào một ông già tóc bạc trắng, gầy gò ốm yếu và giới thiệu là nhà thơ Hữu Loan đến thăm đại hội. Tôi đến chào đón anh bằng cách ôm anh. Sau đó tôi có làm một bài phỏng vấn anh về Nhân Văn Giai Phẩm.”
Hào khí “Đèo Cả”
Bài thơ “Đèo Cả” được Hữu Loan sáng tác vào năm 1946 cho thấy tài năng của ông đã phát lộ rất sớm. Ông nhìn bạn chiến đấu đồng hành cùng với mình bằng một đôi mắt nhân bản nhưng lời thơ hùng tráng như tiếng kèn thúc quân xóa nhòa đi tất cả nỗi thường tình nhi nữ.
Hữu Loan không ca tụng chiến tranh nhưng thơ ông có sức công phá mãnh liệt của lòng yêu nước. Hình ảnh những chàng trai hiên ngang “râu ngược chào nhau bên vách núi” ý thơ cổ điển lồng trong khung cảnh hiện thực đã tăng thêm hào khí cho bài thơ lên nhiều lần.
Đèo Cả! Đèo Cả! Núi cao ngất! Mây trời Ai Lao Sầu đại dương Dặm về heo hút Đá bia mù sương! Bên quán hồng quân Người Ngựa Mỏi Nhìn dốc Ngồi than
Thương ai lên đường Chầy ngày Lạc giữa núi Sau chân Lối vàng xanh tuôn Dưới cây Bên suối độc Cheo leo Chòi canh Như biên cương. Tức Râu trùm vai rộng Không nhận ra người làng Rau khe Cơm vắt Áo phai màu chiến trường Ngày thêm Vượn hú Đêm canh Gặp hùm Lang thang! Gian nguy Lòng không nhạt Căm thù trăm năm xa Máu nghiêng sôi dào dạt Từ nguồn thiêng Ông cha. - Cầu xây chiến lũy ngất Đây hình hài thiên hoa! - Xâm lăng! - Xâm lăng! Súng Thèm Gươm Khát - Ai ngâm Lung lay Đêm quê nhà! Nhớ về thăm Đèo Cả Hậu phương từ rất xa Ăn với nhau Bữa heo rừng Công thui Chấm muối Ngủ với nhau Sạp rừng Nửa tối
Biệt nhau Rừng hoang Canh gà Râu ngược Chào nhau Bên vách núi Giặc từ Vũng Rô bắn tới Giặc từ trong tràn ra Nhưng Đèo Cả Vẫn Giữ Vững Chân đèo Nam Máu giặc Mấy lần Nắng khô Sau mỗi lần thắng Những người trấn Đèo Cả Về bên suối Đánh cờ Người hái cam rừng Ăn nheo mắt Người vá áo Thiếu kim Mài sắt Người đập mảnh chai Vểnh cằm Cạo râu... Suối mang bóng người Soi Những Về Đâu ?!
“Trời có mắt”
Sau năm 75, mặc dù trôi dạt nhiều nơi, người Việt vẫn không quên Hữu Loan. Không những vì bài thơ “Màu tím hoa sim” bất hủ mà còn vì nhân cách sống đáng ca tụng của ông nữa. Khi quyết định trao giải Văn Chương Toàn Sự Nghiệp do tạp chí Khởi Hành khởi xướng cho nhà thơ Hữu Loan, chủ biên tạp chí này là nhà văn Viên Linh kể lại:
Một trong những điều tôi nhớ nhất trong cuộc nói chuyện với anh là khi nói rằng tạp chí Khởi Hành quyết định trao giải cho anh thì anh nói chỉ ba chữ: Trời có mắt! -- Nhà văn Viên Linh
“Năm sáu tháng trước và sau khi trao giải thưởng cho nhà thơ Hữu Loan thì chúng tôi có liên lạc trước hết là những thân nhân sau đó là những bạn bè từ Paris về liên lạc với anh Hữu Loan, sau đó là gọi điện thoại. Một trong những điều tôi nhớ nhất trong cuộc nói chuyện với anh là khi nói rằng tạp chí Khởi Hành quyết định trao giải cho anh thì anh nói chỉ ba chữ: Trời có mắt!”
Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên kể lại những lần thăm viếng nhà thơ Hữu Loan mới đây và ông cũng không dấu được ngậm ngùi khi nghe tin nhà thơ qua đời.
“Khoảng tháng 10 năm 2008 cho đến cuối năm vừa rồi tôi có nhiều dịp đến thăm nhà thơ. Như một sự ngưỡng mộ, như một sự tìm kiếm. Ấn tượng ban đầu khi gặp nhà thơ thì ông rất cương cường, cả về thể xác lẫn tinh thần. Người ông gầy sắt seo lại nhưng rất cứng cỏi và trí nhớ thì vẫn rất tuyệt vời. Ông sẵn lòng đọc thơ cho những ai đến thăm có yêu cầu…”
Ấn tượng ban đầu khi gặp nhà thơ thì ông rất cương cường, cả về thể xác lẫn tinh thần. Người ông gầy sắt seo lại nhưng rất cứng cỏi và trí nhớ thì vẫn rất tuyệt vời. -- Nhà phê bình VH Phạm Xuân Nguyên
Hữu Loan sinh ra và lớn lên tại miền Bắc nhưng tôn vinh và nhận thức cái hay trong thơ ông lại là dân chúng miền Nam. Trước năm 1975, bài thơ “Màu tím hoa sim” hình như không ai ở miền Nam mà không biết tới. Tính chất bi kịch gây xúc động của câu chuyện có thực, lồng trong ngôn ngữ trữ tình lãng mạn của thi ca đã làm biết bao thanh niên miền Nam say đắm.
Giờ đây người dân miền Bắc đã biết đến Hữu Loan qua những nhạc phẩm phổ từ bài thơ của các nhạc sĩ Dzũng Chinh, Phạm Duy hay Anh Bằng. Miền Bắc biết và yêu ông hơn cả người miền Nam khi xưa vì vừa cảm động bởi bài thơ bất hủ vừa chia sẻ sâu sắc nỗi thống khổ của một người bị guồng máy trù dập như thế nào. Rất nhiều người trong họ đã nếm qua những gì mà nhà thơ từng trải nghiệm.
Tuy vẫn quay trong sự im lặng nhưng hình ảnh bất khuất của nhà thơ hình như cũng khiến cho guồng máy chững lại trong giờ phút ông ra đi. Ra đi nhưng để lại trong lòng những người yêu mến ông biết bao thổn thức.
Quý vị vừa theo dõi các văn nghệ sĩ nói về sự kính trọng của mình đối với nhà thơ Hữu Loan. Kỳ tới Mặc Lâm sẽ gửi đến quý thính giả lịch sử của hai bài thơ: “Màu tím hoa sim” và “Hoa Lúa”, hai tuyệt tác mà nhà thơ Hữu Loan sáng tác cho hai người bạn tri kỷ của mình đã và sẽ mãi mãi nằm trong lòng người yêu thơ nước Việt.
Một cuộc sống bất khuất, xen với những tình tiết lãng mạn làm xúc động lòng người, đã khép lại vào tối ngày 18 vừa qua: Nhà thơ Hữu Loan đã từ trần tại huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, hưởng thọ 95 tuổi.
Photo courtesy of violet.vn
Màu Tím Hoa Sim.
Nhà thơ bất khuất
Vào tháng Tám năm 2006, Thy Nga có cơ duyên, có cái dịp điện thoại về Nga Sơn hỏi thăm sức khỏe nhà thơ Hữu Loan. Ông bị chứng phong thấp, hậu quả của những năm dài lao động trong điều kiện khắc nghiệt.
Thy Nga: Xin hỏi thăm sinh hoạt của ông hiện ra sao ạ?
Hồi bắt tôi thì cánh phụ nữ ấy mà, họ phản đối và biểu tình. Nói chính ngay là tôi không khuất phục bao giờ hết. Bắt tôi cũng chả nổi.
Cố Thi sĩ Hữu Loan
Hữu Loan: Tôi bây giờ có tuổi rồi thì cũng yếu đi nhiều nhưng mà tương đối vẫn là khoẻ. Tôi sinh hoạt bình thường. Ngày trước thì họ gò ép ghê lắm nhưng mà không gò ép nổi. Tôi làm lấy, bây giờ tôi có vườn, có ao, gia đình canh tác lấy cái ăn.
Thy Nga: Nhà thơ hết bị quản chế là từ hồi nào ạ?
Hữu Loan: Bị suốt thế thôi! Quản chế, kiếm cách để không cho tôi đi đâu nhưng mà có cái là cánh đấy không biết cái gì hết. Nhiều cái, không đứa nào biết, lại phải hỏi tôi, cho nên lại phải nới cái bao vây tôi ra, chứ không dám bao vây hẳn. Cũng chả áp tôi được.
Nhiệt huyết của tuổi trẻ, Hữu Loan đem ra phục vụ đất nước nhưng rồi lại bị trù dập đày ải thành ra sau này, ông không ngừng công kích chế độ. Ông thuật lại:
Cố Thi sĩ Hữu Loan. Photo courtesy of Talawas.
Hồi ấy, ai cũng tôn vinh ông Hồ nhưng mà riêng tôi, tôi bới, chửi luôn ngay trước Đại hội. Cái bữa tôi bới như thế, giới phụ nữ hoan nghênh lắm. Họ mang bao nhiêu là hoa đến tặng, để đầy cái bàn của tôi, và nói rằng “Cái người nói thẳng, nói thật như ông là nên sống để cho dân nhờ, còn cái loại ăn điêu nói hớt thì nên chết lãng bay đi”. Thế là họ làm rầm cả Đại hội.
Hồi bắt tôi thì cánh phụ nữ ấy mà, họ phản đối và biểu tình. Nói chính ngay là tôi không khuất phục bao giờ hết. Bắt tôi cũng chả nổi.
Người Việt chúng ta hầu hết đều biết Hữu Loan là tác giả bài thơ “Màu tím hoa sim” khóc thương người vợ trẻ bị nước cuốn trôi mất khi ông đi kháng chiến. Nên khi được dịp nói chuyện với ông, Thy Nga đã yêu cầu nhà thơ Hữu Loan đọc tác phẩm “Màu tím hoa sim”.
Nhà thơ Hữu Loan đọc bài thơ “Màu tím hoa sim” ...
Hồng Vân diễn ngâm “Màu tím hoa sim” ...
Màu tím hoa sim
Với những lời xuất phát tự con tim đớn đau, bài thơ ấy, người nào nghe cũng xúc động. Các nhạc sĩ ở Saigon chọn để phổ là Dzũng Chinh với bài “Những đồi hoa sim”, Phạm Duy soạn thành bài “Áo anh sứt chỉ đường tà”, Duy Khánh với “Màu tím hoa sim”, Anh Bằng với “Chuyện hoa sim”, đều được thâu băng đĩa, và hát đến giờ.
“Chuyện hoa sim” Như Quỳnh hát ...
Ngoài ra, bài thơ ấy còn là nguồn cảm hứng cho các nhạc bản “Tím cả chiều hoang”, “Tím cả rừng chiều”, …
Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng trong khi đó, tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ bị chết thảm, vậy mà họ cho tôi là phản động!
Cố Thi sĩ Hữu Loan
Sau này, sau khi văn nghệ được cởi trói, trong một chuyến vào Nam theo lời mời của giới văn nghệ sĩ trong Nam,
nhà thơ Hữu Loan được nghe họ trình bày các nhạc bản ấy.
Theo ông thì bài “Những đồi hoa sim” do Dzũng Chinh phổ, gần với tâm tình của ông hơn.
Trong các nhạc bản vừa kể, “Những đồi hoa sim” cũng là bài phổ biến nhất.
“Màu tím hoa sim” Hồng Vân ngâm ...
“Màu tím hoa sim” được nhiều người coi là bài thơ tình hay nhất của Việt Nam. “Màu tím hoa sim” còn được dịch sang Anh ngữ, và là bài thơ Việt Nam đầu tiên được mua bản quyền.
Nhưng vào thời đó thì bài thơ “Màu tím hoa sim” bị coi là mang tình cảm “tiểu tư sản” của thành phần trí thức.
Tài làm thơ, học thức cùng với vóc dáng cường tráng đã khiến Hữu Loan bị ghen ghét.
Năm 1956, phong trào Văn nghệ sĩ đòi tự do sáng tác, bị đẩy lên thành một vụ án văn học, rồi thành vụ án chính trị. Nhiều văn nghệ sĩ trong nhóm “Nhân văn - Giai phẩm” bị treo bút, bắt đi lao động, cải tạo, tù đày. Hữu Loan thì tham gia các tạp chí “Nhân văn” và “Đất mới” thành ra bị quản thúc tại quê nhà, và cấm không được liên hệ với ai. Từ một người trí thức (có Tú tài Tây vào năm 1941 nhưng khước từ làm việc với Tây) xuống thành một kẻ đi đánh giậm kiếm vài con tôm con tép; đục đá, thồ về đổi lấy ngô khoai để sống còn mà vẫn bị gây cản trở, và luôn bị theo dõi, bị đầu độc và cả mưu sát nữa!
“Màu tím hoa sim” Duy Khánh phổ nhạc và trình bày …
Chiếc bình hương
"Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương" vẫn đặt trên bàn thờ. Hình của Nhạc sĩ Trịnh Hưng.
Thưa nhà thơ Hữu Loan, chúng tôi nghe nhạc sĩ Trịnh Hưng thuật lại là “chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương” tới nay vẫn được đặt trên bàn thờ trong nhà, phải thế không ạ?
Nhà thơ Hữu Loan:Vẫn đang trên bàn thờ.
“Những đồi hoa sim” Phương Dung ca …
Bốn năm sau cái chết của vợ, khi Hữu Loan làm Trưởng phòng Tuyên huấn và Chính trị Sư đoàn thì cùng huyện,
có một gia đình địa chủ rất yêu nước thương người, thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Nhưng rồi, vợ chồng ông bị đem ra đấu tố, bị chôn để hở cái đầu cho trâu kéo bừa qua lại tới chết. Đứa con gái duy nhất của họ, năm đó 17 tuổi thì bị đuổi ra khỏi nhà, và cấm không ai được liên hệ, hoặc thuê làm công. Hữu Loan nhớ ơn ông bà, tìm xem cô gái ấy sống ra sao, thì thấy cô rất đói khổ, bèn đưa về, lấy làm vợ, bất chấp lệnh cấm lấy con cái địa chủ. Thật là điều mà hiếm ai dám làm. Đó là vào năm 1953, rồi thì vợ chồng cùng nhau trải qua bao cảnh khổ cực nhưng rất hạnh phúc và có 10 con.
Hữu Loan: Tôi bây giờ đông lắm. Có lẽ trên một trăm, cả con cháu ấy!
Thy Nga: Con cháu, ông bà có trên một trăm người! Chúng tôi cũng nghe nói là mặc dù bị nhà cầm quyền cản trở việc học nhưng các cô cậu vẫn cố gắng học lên?
Hữu Loan: Đúng rồi, thành đạt hết rồi. Con út, thằng Đán ấy, là tiến sĩ về xây dựng.
Thy Nga:
Chắc là cậu ấy xây lại nhà cho cha mẹ, và cuộc sống gia đình khá hơn trước?
Hữu Loan:Vâng, khá nhiều. Tôi bây giờ đầy đủ thì cánh kia cấm đoán không được nữa rồi.
Nhà thơ Hữu Loan cũng kể lại là vài năm sau này, có các sinh viên tới Nga Sơn tìm hỏi ông về thơ để làm luận án ra trường. Ông tiếp đón nhưng khuyên các em là không nên làm bài về ông vì sẽ bị đánh hỏng. Quả nhiên là thế!
Hữu Loan:Nếu có thời giờ thì lên chỗ tôi đây, nói chuyện cho vui.
Thy Nga: Dạ vâng ạ, xin cám ơn nhà thơ.
Nhạc sĩ Phạm Duy trong một lần đến thăm Cố Thi Sĩ Hữu Loan. Photo courtesy of phamduy2000.com
Thưa quý vị, Thy Nga chưa có điều kiện để về thăm nhà thơ Hữu Loan thì nay, ông đã ra đi vĩnh viễn, để lại trong lòng những người ngưỡng mộ biết bao ngậm ngùi. Ngoài thi ca, Hữu Loan được coi là biểu tượng của sự bất khuất trước cường quyền, một chế độ mà ông lớn tiếng phê phán những tha hoá, sai trái.
Cái tâm, ông giữ được trong sáng cho tới khi qua đời, đó là điều mà Thy Nga ghi nhận qua những tài liệu về nhà thơ Hữu Loan. Trong bài tự thuật, Hữu Loan có viết là
“Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì. Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng trong khi đó, tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ bị chết thảm, vậy mà họ cho tôi là phản động! Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?”
Hai người nữ trong cuộc đời ông cũng rất đặc biệt. Khi sửa soạn cưới cô Lê Đỗ Thị Ninh, ông bàn chuyện may áo cưới thì cô gạt đi, bảo là “Yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm, và cái tình bền chặt là hơn cả.”
Chẳng may, cô chết sớm. Người vợ sau cũng có tâm hồn sâu sắc, một lòng chia sẻ với chồng mọi gian nan. Khi Hữu Loan bỏ chức vị, về quê đi cày bừa, đi gánh đá, ông nói với gia đình “Thôi thì bà với các con chịu khổ để tôi được sống lương thiện”. Cuộc sống đó trong sáng cho đến khi qua đời.
viết bởi một người bạn văn ghé thăm cụ Hữu Loan ở quốc nội. Bài viết tưởng nhớ nhà thơ chiến sĩ lão thành Hữu Loan chan chứa tình cảm, kiên cường bất khuất chống giặc Pháp rồi chống Cộng Sản. Có vài đoạn văn có vẻ gián tiếp tuyên truyền/chống chế cho chế độ Việt Cộng, thì chúng tôi kiểm duyệt, cắt bỏ
-- (freeviet.com)
Thấp Thoáng Hữu Loan
Hà Đình Cẩn
Cả ba lớp cửa từ đường làng vào vườn, vườn vào sân, sân vào nhà của nhà thơ Hữu Loan đều khép hờ. Ai ra vào tuỳ ý. Nhưng xem ra cũng ít người qua lại, trừ đám trẻ, như bà cụ hàng xóm nói. Chúng kéo đến vào mùa nhãn, cho đến khi bói không ra một quả, rồi thôi, bỏ lại khu vườn đã vặt trụi hoa trái cho hai ông bà già...
Bà cụ hàng xóm mau mắn: các bác có lòng đến thăm cụ Tú thì cứ vào, chứ gọi cửa cũng không có người ra đón đâu. Cụ Tú con đàn cháu đống, ra ở riêng cả rồi,về già chỉ còn lại hai cái bóng mướp. Cụ Tú có nhà đấy, chắc lại đang ngồi ngắm rượu.
Nhà thơ đang ngồi ngắm rượu thật, trên manh chiếu trải ngoài hiên, tựa lưng vào tường, hai đầu gối so lên cằm, mái tóc bạc trắng rũ xuống, mắt nhìn đắm đuối vào chén rượu trên tay. Mâm bát sơ sài, chỉ một quả chối xanh, nhúm muối và đôi đũa lệch. Nhà văn xứ Thanh, Kiều Vượng, nói với tôi, mỗi năm ông vài lần đến thăm cụ Loan, lần nào cũng gặp cụ ngồi nhìn chén rượu thế kia, chỉ nhìn mà ít uống.
Cụ đang sáng tác hay chỉ ngồi ngắm chén rượu như một thói quen của một thượng thọ ngoài tám mươi? Tôi không biết. Kiều Vượng cũng chịu. Chỉ có nhà thơ Trịnh Thanh Sơn, cùng quê Nga Sơn, từng nhiều lần hầu rượu cụ Loan, thì đoan chắc thi sĩ đang nghĩ về thơ đấy, nghĩ lạ lắm, chả giống ai. Đời thơ của cụ bắt đầu từ Đèo Cả, khép lại là Hoa lúa, vỏn vẹn mươi bài, nhưng cụ nghĩ về thơ, người thơ, cõi thơ thì cả đời, nếu chép ra thì cả bộ trường thiên.
Thi bá cho rằng thơ thuộc về âm, nghĩa là thuộc về đêm, thuộc về trăng, con nước, thuộc về đàn bà. Người có sao Thái âm đóng cung mệnh, người đó mới làm được thơ, mới trở thành nhà thơ. Thơ thuộc hành thuỷ, mềm đấy mà cứng đấy, thấy trước mặt mà không nắm được trong tay,ngỡ là hữu hình mà hoá ra vô hình. Bởi vậy trong thơ thường có trăng, có sông, lại khăng khít với nhau, tạo những suối nước.
Ngày trăng viên mãn, thì nước ngập tràn. Ngày trăng hao mòn thì con nước nghẹn ngào. Bản chất của thơ là buồn, là cô đơn, là hiu quạnh. Khi vui người ta hát. Khi buồn người ta đọc thơ. Kiếp nhân sinh có vui có buồn. Khi buồn người ta cần có thơ để vịn mà đi. Thơ trường tồn là vậy. Bao nhiêu rượu quê Nga Sơn, bao nhiêu chiều ngồi ngắm rượu trên tay của một đời thơ để cụ cảm về thơ, nghĩ về thơ tràn đầy và thâm hậu đến như vậy ?
Nhà thơ ngồi đó, trước mặt tôi, như ngồi để chờ một phép lạ giúp cụ được tan vào thứ ánh sáng vườn chiều sâm sẫm bò loang trên cỏ rác. Giá thử không có chúng tôi đánh động thì cơ chừng cụ sắp tan vào chiều quê thật. Được thế thì sướng quá, nhưng trời lại chưa cho nên xem cái dáng cụ ngồi ngắm chén rượu thấy cái vẻ thi nhân chưa được thư thái, mãn nguyện, buông xuôi sự đời của trưởng lão, mà vẫn như để tự giam mình cho đến cõi khổ tận cam lai của đời người bao vuông tròn...
Trong các nhà thơ thuộc thế hệ đầu cách mạng, có lẽ Hữu Loan là người nhiều bước thăng trầm hơn cả. Ông người quê nghèo Nga Sơn Thanh Hoá, từ nhỏ, nói như Nam Cao, ít khi được thoả cơm nhưng ham học, lại sáng dạ nên hai mươi tuổi đã đậu tú tài. Dến tận bây giờ bà con láng giềng vẫn cứ một cụ Tú Loan, hai cụ Tú Loan là vậy.
Cụ Tú học trường Tây, nhưng không đi làm cho Tây ở Sở Dây thép, mà mở trường dạy trẻ và hoạt động trong phong trào Bình dân rồi tham gia Việt Minh. Ngày cách mạng Tháng Tám ông 29 tuổi, được cử làm Phó chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn.
Trong cuộc mít tinh phát động Tuần lễ vàng, hàng ngàn người xứ Thanh vây quanh anh cán bộ Việt Minh trẻ, đẹp trai, diễn thuyết dõng dạc đầy cảm hứng và mới mẻ về nghĩa vụ người dân với nước Việt Nam, có sức cuốn hút kỳ lạ, khiến cho nhiều người sẵn sàng góp công, góp của ủng hộ kháng chiến.
Anh cán bộ Việt Minh tài hoa ấy chính là Hữu Loan, thành viên Uỷ ban Lâm thời tỉnh Thanh Hoá, phụ trách bốn Ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính. Cũng buổi sáng diễn thuyết này có cô học trò 16 tuổi vô cùng ngưỡng mộ bởi tài hoa cậu Tú Loan ngày nào.
Kháng chiến bùng nổ, Hữu Loan làm công tác tuyên truyền, phụ trách tờ báo Chiến sĩ ở Mặt trận miền Trung. Ký giả chiến tranh Hữu Loan có chuyến đi công tác nhớ đời, giống tráng sĩ, cưỡi con ngựa đực bất kham từ Huế dong duổi dọc miệt rừng miền Trung.
Từ thành phố, làng quê đồng bằng kéo lên bưng biền, tựa thế hiểm của núi non hùng vĩ dựng trận địa, bước vào cuộc chiến đấu lần thứ nhất đầy khí phách: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Thay vì viết những phóng sự, chủ bút Hữu Loan lấy thơ để diễn tả những tình cảm trào dâng trước thiên nhiên và người lính vạm vỡ, gân guốc, đầy nhiệt huyết. Đèo cả ! Đèo cả ! Núi cao ngất ! Mây trời Ai Lao Sầu đại dương Dặm về heo hút Đá bia mù sương ! Bên quán Hồng quân Người ngựa mỏi Nhìn dốc ngồi than thương ai lên đường ... Râu ngược chào nhau bên sườn núi Giặc từ Vũng Rô bắn tới Giặc từ trong tràn ra Nhưng Đèo Cả vẫn giữ vững Chân đèo nam máu giặc bao lần nắng khô Sau mỗi lần thắng Những người lính Đèo Cả Về bên suối đánh cờ Người hái cam rừng ăn nheo mắt Người vá áo thiếu kim mài sắt Người đập mảnh chai vểnh cằm cạo râu Suối mang bóng người soi những về đâu ? !
Đèo Cả gập ghềnh,vạm vỡ, chữ quánh đặc, nhấp nhô như dốc đá, tư thế kiêu sang, tươi rói về hiện thực ngày đầu kháng chiến, thật giàu phong vị sử thi.
Nhưng bấy giờ với Hữu Loan Đèo Cả chỉ như lời tâm sự ông dồn nén, chan chứa yêu thương về cuộc kháng chiến sinh tử của dân tộc, viết để gửi cho một người đọc.
Cô Đỗ Thị Ninh, người học trò cũ đã hào phóng cởi xuyến vàng góp cho kháng chiến. Họ nên vợ nên chồng vào hai năm sau đó, đầu năm 1948, bấy giờ Hữu Loan là cán bộ tuyên huấn của một đơn vị chủ lực. Trong chiến tranh thật khó có hạnh phúc trọn vẹn. Chỉ bảy tháng sau ngày cưới, Hữu Loan đang ở chiến trường, nhận tin vợ mất. Tráng sĩ Hữu Loan khóc vợ bằng Màu tím hoa sim làm xúc động bạn đọc nhiều thế hệ.
Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình Yêu nàng như tình yêu em gái Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo Tôi ở đơn vị về cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa....nhớ về ái ngại Lấy chồng đời chiến chinh mấy người đi trở lại Nhỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê ! ... Chiều hành quân qua những đồi hoa sim những đồi hoa sim Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim, tím chiều hoang biền biệt Nhìn áo rách vai, tôi hát trong màu hoa “ áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh mất sớm mẹ già chưa khâu “
Từ đây, sau Màu tím hoa sim nỗi đau riêng về hạnh phúc làm thay đổi tâm tính thi nhân. Chiến binh Hữu Loan hào hoa, phong trần, cưỡi ngựa, đeo gươm ra trận làm thơ hào sảng đổi chỗ cho một Hữu Loan thâm trầm, sâu nặng tình nghĩa con người. Hoa lúa, Yên Mô, Những làng đi qua...những bài thơ sau nỗi đau Màu tím hoa sim là những chấm phá tình quê, tình người kháng chiến...
Trời hạn Giặc kéo qua đồng Đồng chiêm mà nước cạn giày đinh đi trên lúa khoai
Hoặc:
Từng chiều từng chiều hôm xuống Người lính hành quân trú mưa nhiều thôn xóm Có thôn xa dăm mái tranh nghèo Có những thôn giặc tàn sát hết Người sống không còn để chôn người giặc giết
Hữu Loan đi qua chín năm kháng chiến với mười bài thơ. Và đó cũng là toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông. Sang hoà bình, sóng gió của những đổi thay đã đẩy ông sang hướng khác.
Bước thăng trầm của ông bắt đầu từ cuối năm 1957. Một đêm Hà Hội nhiều sương muối, buốt giá, ông và nhạc sĩ Văn Cao trắng đêm dạo quanh hồ Thuyền Quang. Đến sáng thì Văn Cao tiễn ông ra bến xe để ông trở về quê Nga Sơn kiếm kế sinh nhai.
Bấy giờ Nga Sơn, Thanh Hoá quê ông nghèo lắm. Ông lại tay trắng dắt vợ con về, biết sống sao đây. Buổi chiều đầu tiên về làng Vân Hoàn, thay vì đi thăm hỏi láng giềng ông cắp be rượu lên núi đá đầu thôn.
Bạn ông, người cùng thời, nhà thơ Trần Dần về Nam Định kiếm sống có câu thơ làm ông sởn gai ốc: Cuối phố có ngọn đèn thắt cổ Hãy chỉ cho tôi chỗ nào tôi đổ bớt tôi đi.
Trần Dần đổ nỗi buồn thi nhân thăm thẳm vào đâu, ông chưa hình dung ra, nhưng với ông, ở Nga Sơn này, ông chỉ còn biết đổ lên đá mà càm cắp vợ con qua cơn giáp hạt. Vốn có sức như trai lực điền, lại ở bước cùng, không thể ngồi ngâm thơ nhìn các con hết gạo, ông tưới rượu lên mặt đá mà thề sẽ bám đá để sống.
Một chiếc xe cút kít. Một đôi quang sắt. Một xà beng. Một cuốc chim. Một chiếc đòn gánh bằng cả khúc tre ngâm.Ông nạy từng khối đá đưa lên chiếc xe cút kít thô sơ đem đi bán ở các lò thợ làm cối, làm thớt, làm kê chân cột và làm vật liệu xây dựng. Bán cả chục xe đá mới kiếm đủ ngaỳ hai bữa cơm dưa muối cho đàn con.
Đã thế, nhiều khi ế ẩm, đá chất đầy vườn, cả tháng không ai hỏi mua. Một năm, hai năm, ba năm...Hữu Loan trở thành người thợ đá da đen như sừng, chân tay sần sẹo, tua tủa tóc rễ tre, đi đứng nói năng mạnh mẽ. Cặm cụi vật lộn với núi đá ông nuôi cả mười đứa con khôn lớn. Đến giờ cả mười đứa con đã có chín nên vợ nên chồng, sinh cho ông đàn cháu 37 đứa. Chỉ còn cậu út là chưa lập gia đinh.
Hữu Loan thôi bám núi đá dã mười năm nay. Ông lui về nhà, trải chiếu trên thềm,ngày ngày ngồi uống rượu, ngắm rượu và ngóng đợi con cháu về thăm nhà, ngóng đợi những chuyển động đổi thay của làng xóm, của gia đình mình, của phận mình.
Dằng dặc ngóng đợi, vận may cũng đã đôi lần gõ cửa nhà ông. Bắt đầu là toà soạn báo Văn nghệ, cơ quan ông công tác gần bón mươi năm trước đưa đến tận nhà cho ông sổ hưu, với mức lương gần hai trăm ngàn đồng/tháng. Rồi chờ thêm vài năm nữa ông được xuất bản tập thơ đầu tiên trong đời, tập Màu tím hoa sim với mười bài thơ ông viết từ thời kháng chiến.
Lại đợi, ông được trời ban phúc, con trai út, chú bé ra đời trên lèn đá tốt nghiệp Đại học Kiến trúc Hà Nội. Nghe tin con thành đạt, ông cứ ngẩn ngơ tiếc nuối, giá còn sức như ngày nào, ông sẽ chở một xe cút kít đá ở cái núi đá từng nuôi sống gia đình ông về tận Kim Liên.
Không biết có còn vận may nào đến nữa không, Hữu Loan vẫn chờ. Cái chỗ bao nhiêu năm ngồi uống rượu, ngắm rượu và chờ đợi, mồ hôi thấm lên tường hình một bờ vai. Hình bờ vai lún dần, lún dần xuống thấp, có dễ không lâu nữa ngả hẳn xuống gần mặt chiếu.
Tôi ghé sát tai ông:
- Thưa bác, bác có làm thơ nữa không ?
Hữu Loan vẫn nhìn chén rượu:
- Có. Nhưng toàn thơ đểu
Bỗng nhiên ông cất tiếng cười, cười khà khà, mãn nguyện.
- Bác thử đọc vài câu thơ đểu cho con nghe với nào ?
Hữu Loan ngồi im. Lát sau ông nói :
- Đọc Đèo Cả thì đọc, chứ đọc thơ đểu phí rượu.
Rồi ông như người bất ngờ vùng tỉnh dậy sau giấc ngủ dài, tinh nhanh, hoạt bát hẳn ra, giọng vang và còn sáng. Ông đọc hết Đèo Cả không hề vấp váp. Đọc xong, ông vơ lấy chén rượu, nhưng không uống, chỉ nhìn mà nước mắt rơi.
Tôi có một chiều Hữu Loan.
-------------------
Cải cách ruộng đất: Câu chuyện của nhà thơ Hữu Loan
Phương Anh, phóng viên RFA
2006-05-19
Nhạc sĩ Trịnh Hưng, người bạn thân của nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ Màu Tím Hoa Sim, kể lại hoàn cảnh của chính nhà thơ trong cuộc cách mạng "Cải cách ruộng đất" ở miền Bắc Việt Nam hơn 50 năm trước.
Nhà thơ Hữu Loan và nhạc sĩ Trịnh Hưng chụp năm 2005. Hình của nhạc sĩ Trịnh Hưng.
Nhớ lại những gì đã xảy ra trong thời kỷ "Cải cách ruộng đất", ông Nguyễn Văn Thủ, quê ở tỉnh Hưng Yên, năm nay 72 tuổi, hiện nay đang sống ở Hà Nội. Ông Thủ kể lại với Phương Anh về những tại hoạ bất ngờ đổ xuống gia đình ông trong cuộc cách mạng "long trời lở đất" này.
Ông Nguyễn Văn Thủ: Dân trí thì thấp, đời sống thì đói…Lúc ấy, miền Bắc được “giải phóng”, còn miền Nam thì…, chia làm hai chế độ. Ngoài này, thực hiện chính sách giảm tô cải cách để có ruộng cho người nông dân cầy.
Đường lối đưa ra là đánh đổ địa chủ, cải tạo tư sản, tư bản…để lấy đất chia cho nhân dân, cho những người nghèo. Cho nên, có những người bị thiệt thòi. Lúc ấy, lộn xộn, chẳng ai giữ đạo làm người, con tố bố, vợ tố chồng…mất cả đạo đức con người.
Phương Anh: Thưa ông, xin ông cho biết chuyện gì đã xảy ra cho gia đình ông?
Ông Nguyễn Văn Thủ: Gia đình tôi, cụ (ông nội) công tác rất tốt, đến lúc ấy tự nhiên qui cho cụ tôi là thành phần đối kháng, bắt cụ đi đấu tố, gia sản bị tịch thu hết. Tôi bị coi là con nhà địa chủ, khổ lắm, đi ra ngoài đường là phải chào ông bà nông dân. Dù nó là con là cháu mình, cũng phải gọi nó là “Ông” là “Bà”.. của cải mất hết, chả còn gì cả.
Tôi là con nhà địa chủ, bị trong cảnh xem từng người tố bố mình, toàn bịa chuyện. Lúc ấy dân ngu dốt lắm, chả hiểu gì cả, cứ nói bưà, nói theo kiểu “mớm” lời, toàn là bịa ra, chúng (đội cải cách) bảo thế nào thì người nông dân nói thế. Lúc đó, trình độ của chúng có ra cái gì đâu.
Bạn nghĩ gì về cuộc cải cách ruộng đất tại Việt Nam và những hậu quả của chính sách này? Xin email về Vietweb@rfa.org
Phương Anh: Thưa ông, biết là năm nay tuổi đã cao, nhưng ông có còn nhớ được cảnh đấu tố những người bị qui là địa chủ không?
Ông Nguyễn Văn Thủ: Ôi...Tôi còn nhớ như thế này, tôi chưa bao giờ thấy lịch sử con người lại ngược đời như thế, đến nỗi phải nói là thời đại trâu bò đi “bí tất”, cóc nhái nhẩy lên làm người, mõ sãi ngày xưa nhẩy lên làm chánh án, làm thẩm phán. Thậm chí ngồi trên toà đấu bố mình. Tả lại thì nhiều lắm, khí thế của nhân dân nó vùng lên, đánh đổ địa chủ mà!
Ông bà nông dân họp riêng với nhau, người ta họp thế nào đó, xong rồi “đùng” một cái, nhà mình bị qui là đối kháng luôn, mặc dù nhà là một thành phần rất tốt, có công với cách mạng, thế mà “đùng” một cái, ngược lại hết! Nó đến nó tịch thu, nó đuổi mình ra khỏi nhà. Trong người mặc quần áo thế nào thì đi ra thế đấy.
Tôi đi học về, cắp cái cặp, là chỉ có thế… thế là hết, và mấy mẹ con dắt nhau ra ngồi một chỗ, nhìn ông bà nông dân chia của. Sau đó, ông bà nông dân tập hợp ra, ngồi đông lắm, cảnh đấu tố đông lắm, các “vị” thì ngồi trên toà, làm cái toà trên cao đàng hoàng, kê ở ngoài đình, cánh đồng, như sân khấu vậy, rồi bắt nông dân lên đấu tố, địa chủ phải cúi mặt xuống, họ trói, cùm kẹp, thậm chí còn tra tấn…
Phương Anh: Thưa ông, được biết người đấu tố ông bà nội và bố ông lại chính là bà xui gia và cũng là người láng giềng, từng được ông cụ, tức ông nội của ông giúp đỡ trong nhiều năm. Vậy, ông còn nhớ bà ấy đã làm những gì khi đó? Và kết quả cuộc đấu tố lúc bấy giờ ra sao?
Ông Nguyễn Văn Thủ: Bà ấy lên, lật ngửa mặt cụ ra, rồi chỉ vào tận mặt và nói: con Ly, tên bà cụ là Ly, vợ chồng mày ép buộc tao, phải gả con gái cho con mày…rồi bà ấy khóc hu hu lên…rồi xin đội cải cách cho đem con gái về… rồi bà ấy bảo là mày dụ dỗ con tao đi Nam để cho bố mẹ lià con…
Lúc ấy, tự nhiên nó như ma quỉ cám dỗ, người ta nhìn thấy nhà tôi, người ta như muốn ăn thịt luôn, họ muốn làm gì thì làm. Lúc ấy, người nào càng hăng hái, càng tốt, càng đấu tố, càng đánh đập, thì càng tốt. Có những người bị tử hình, ông cụ tôi bị kết án tử hình, bắn chết ngay, lôi ra bắn chết ngay, bắn ngay trước mặt mọi người, con cháu…
Đấu tố bố mình, bắt phải ra nhìn…Còn những người khác bị tra tấn, bị chết thì cho là họ tự tử, bắn thì rõ ràng rồi, mấy trường hợp…Cuối cùng thì sửa sai, biết là sai lầm, rồi xin lỗi, thế thôi !
Phương Anh: Sau khi bị đấu tố, cuộc sống của gia đình ông như thế nào?
Ông Nguyễn Văn Thủ: Sau đó thì mò cua bắt ốc mà nuôi nhau, nhà không có, phải đi ở nhờ, nằm đất, không có cái chiếu để nằm. Ông bà nông dân phải tránh xa mình. Ông bà nông dân nào có thương mình đi chăng nữa thì phải để trong lòng, nếu không thì đội nó qui cho, cũng chết luôn!
Đi ra ngoài thì phải chào ông bà nông dân, xưng “con”, chả muốn đi đâu cả, nhưng vì cuộc sống, nên lúc ấy, cũng phải đi ra ngoài đồng để kiếm rau, con cua, con cá…mẹ con bắt ốc nuôi nhau, vẫn phải cúi mặt xuống để mà tránh né, cho qua ngày, biết làm thế nào được…Giai đoạn lịch sử nó là thế đấy!
Trường hợp của vợ nhà thơ Hữu Loan
Phu nhân nhà thơ Hữu Loan, một nạn nhân trực tiếp của cuộc cải cách ruộng đất. Hình của nhạc sĩ Trịnh Hưng.
Vưà rồi là cuộc trao đổi với ông Nguyễn Văn Thủ, hiện đang ở Hà Nội, một nạn nhân trong cuộc cải cách ruộng đất. Một trường hợp khác mà nạn nhân chính là vợ của nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ nổi tiếng suốt mấy chục năm qua, Mầu Tím Hoa Sim.
Chúng tôi không thể liên lạc với nhà thơ Hữu Loan được vì gia đình ông hiện đang ở một xã nhỏ thuộc tỉnh Thanh hoá, không có điện thoại. Tuy nhiên, được biết nhạc sĩ Trịnh Hưng hiện đang ở Pháp, là người bạn thân của nhà thơ và mới đây có về thăm nhà thơ, chúng tôi liên lạc và được ông kể lại:
“Ông ấy kể tôi nghe là: Lúc ấy, ông ấy là Trưởng ban Tuyên Huấn của đoàn 304, do tướng Nguyễn Sơn phụ trách, quân đội thì đói khổ lắm, chỉ có ăn khoai, ăn sắn, không có gạo mà ăn…Ông địa chủ đó thì giầu, tháng nào cũng đem gạo đến, để nuôi quân cho…Chính tướng Nguyễn Sơn tháng nào cũng làm lễ vinh danh cho ông ta, ban thưởng huân chương.
Năm 1953, bị đấu tố, lan đến Thanh Hoá, ông bà địa chủ ấy bị giết chết. Nhà thì chỉ có một cô con gái thôi. Nó cấm tất cả mọi người, con trai, hay con gái, không được kết hôn với con nhà địa chủ, không được nuôi con nhà địa chủ.
Ông ấy (nhà thơ Hữu Loan) thấy thế bực quá, mới bỏ về làng, đi qua làng ấy, ông ghé vào thăm, ông biết rằng ông bà cụ bị giết chết rồi, cô con gái không ai nuôi cả, cô ấy phải đi mót sắn, mót khoai ở ngoài đồng, ăn sống, để sống thôi, quần áo rách rưới, bẩn thỉu lắm, ngủ ở đường, ở đình làng, ông thấy thế, thương hại và đem về nhà nuôi…và bây giờ là vợ ông ấy!”
Trong hai buổi phát thanh vừa qua, quý thính giả đã nghe chuyện của những nạn nhân trực tiếp trong cuộc cải cách ruộng đất diễn ra 50 năm trước đây ở miền Bắc Việt Nam. Không thể biết chính xác số nạn nhân của cuộc cách mạng được gọi là “long trời lở đất” này là bao nhiêu vì nhiều người đã chết, nhiều người không muốn nói ra, và nhiều người không dám nói ra.
Tuy nhiên, qua các lời kể, quý thính giả cũng có thể hình dung được những đau khổ tận cùng mà những người dân lúc đó phải chịu đựng, do chính những người cùng làng cùng xóm với mình gây ra theo chỉ đạo của các đội cải cách ruộng đất. Kỳ tới, chúng tôi sẽ nói về đợt sửa sai được phát động sau khi trung ương đảng thừa nhận sai lầm. Mong quý thính giả đón nghe.
Nhà thơ Hữu Loan, tình sử “Màu tím hoa sim” và cuộc sống bất khuất
Thy Nga, phóng viên RFA
2006-08-15
Chứng kiến tận mắt những vụ đấu tố, thấy sự đảo lộn của đạo lý luân thường, quá chán nản chủ nghĩa Cộng sản, Hữu Loan quyết định bỏ ngũ, về quê ở Thanh Hoá.
Trở lại quê hương lần đầu tiên, nhạc sĩ Trịnh Hưng về thăm miền Bắc, có ý tìm nhà thơ Hữu Loan nhưng khi đó không người nào dám chỉ đường cho ông vì họ còn e ngại tình trạng nhà thơ Hữu Loan bị cấm liên hệ.
Đến chuyến về năm 2002, nhạc sĩ Trịnh Hưng mới gặp được người chỉ đường tới chỗ nhà thơ Hữu Loan sinh sống ở thôn Vân Hườn, huyện Nga Sơn. Từ Thanh Hóa vào hai mươi cây số. Thế là sau hơn năm mươi năm trôi dạt theo giòng lịch sử, hai anh em nghệ sĩ mới gặp lại nhau, biết bao điều để nói.
Như những thanh niên khác, họ đem lý tưởng và tuổi trẻ ra nhiệt thành tham gia kháng chiến chống Thực dân Pháp, nhưng sau khi nước nhà được độc lập thì họ dần hiểu ra về đường lối Cộng sản, và đều thất vọng.
Từ khi Trịnh Hưng về Hà thành thì Hữu Loan ra sao? Nhà thơ thuật lại rằng chứng kiến tận mắt những vụ đấu tố, thấy sự đảo lộn của đạo lý luân thường, ông quá chán nản chủ nghĩa Cộng sản nên bỏ ngũ, về quê.
Bài thơ “Màu tím hoa sim” ông viết vào năm 1949 để khóc thương người vợ trẻ vắn số thì bị coi là mang tình cảm “tiểu tư sản” của thành phần trí thức.
“Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương” vẫn đặt trên bàn thờ. Hình của Nhạc sĩ Trịnh Hưng.
Bài ấy đem lại tiếng tăm cho Hữu Loan nhưng đồng thời cũng kéo theo lắm hệ lụy. Tài làm thơ, học thức cùng với vóc dáng cường tráng đã khiến ông bị ghen ghét.
Năm 1956, phong trào Văn nghệ sĩ đòi tự do sáng tác, bị đẩy thành một vụ án văn học, rồi thành vụ án chính trị. Nhiều văn nghệ sĩ trong nhóm “Nhân văn – Giai phẩm” bị treo bút, bắt đi lao động, cải tạo, tù đày. Hữu Loan thì tham gia các tạp chí “Nhân văn” và “Đất mới” thành ra bị quản thúc tại quê nhà, và cấm không được liên hệ với ai.
Từ một người trí thức (có Tú tài Tây vào năm 1941 nhưng khước từ làm việc với Tây) xuống thành một kẻ đi đánh giậm kiếm vài con tôm con tép; đục đá, thồ về đổi lấy ngô khoai để sống còn, mà vẫn bị gây cản trở, và luôn bị theo dõi.
Kế đến trong cuộc chuyện trò với Trịnh Hưng, ông kể lại về các vụ bị đầu độc và cả mưu sát nữa! về bài thơ “Màu tím hoa sim” một trong các nguyên do khiến Hữu Loan bị trù dập, thì nhạc sĩ Trịnh Hưng ghi lại và thuật với ban Việt ngữ đài chúng tôi như sau: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên) “Màu tím hoa sim” Hồng Vân diễn ngâm …
Chúng tôi cũng điện thoại về Nga Sơn hỏi thăm sức khỏe nhà thơ Hữu Loan, và yêu cầu ông đọc tác phẩm “Màu tím hoa sim” gửi đến quý thính giả: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên) “Màu tím hoa sim” Hồng Vân ngâm …
Với những lời xuất phát tự con tim đớn đau, bài thơ ấy đã gây xúc động và chiếm ngay được lòng mến thương của mọi người. Các nhạc sĩ ở Saigon chọn để phổ, là Dzũng Chinh với bài “Những đồi hoa sim”, Phạm Duy soạn thành bài “Áo anh sứt chỉ đường tà”, Duy Khánh với “Màu tím hoa sim”, Anh Bằng với “Chuyện hoa sim”, đều được thâu băng đĩa, và hát đến giờ.
“Chuyện hoa sim” Như Quỳnh hát …
Ngoài ra, bài thơ ấy còn là nguồn cảm hứng cho các nhạc bản “Tím cả chiều hoang”, “Tím cả rừng chiều”, …
Được nhiều người coi là bài thơ tình hay nhất của Việt Nam, bài “Màu tím hoa sim” cũng đã được dịch sang Anh ngữ.
“Áo anh sứt chỉ đường tà” qua giọng hát Thái Thanh … Mối tình của Hữu Loan với cô Lê Đỗ thị Ninh ly kỳ thật đấy! Biết từ khi cô bé vừa chào đời, cưới thì chú rể 33 tuổi, còn cô dâu mới 17.
“Áo anh sứt chỉ đường tà” …
Thông tin trên mạng:
- Trang web có những hình ảnh về Cuộc cải ruộng đất
- Cải cách ruộng đất - Wikipedia
- Land Reform in China and North Vietnam
- A Special Supplement: In North Vietnam (The New York Review of Book)
- The Solzhenitsyn of Vietnam
- Statistics Of Vietnamese Genocide And Mass Murder
Hữu Loan ra đi trong sự im lặng của
truyền thông nhà nước. Những tờ báo có xu hướng cởi mở hơn như
VxExpress, Thanhnien, Dantri v.v. có đưa tin về cái chết của ông nhưng
trong một chừng mực khá dè dặt. Người ta kể về cuộc đời khốn khó của ông
nhưng không đề cập tới nguyên nhân của sự khốn cùng đó. Nhắc tới những
năm tháng vất vả của ông, nhưng không nhắc tới Nhân Văn Giai Phẩm hay
Cải Cách Ruộng Đất v.v. Mặc dù né tránh đề cập thẳng tới những vấn đề tế
nhị, những bài viết này cũng diễn tả khá chân thực cuộc đời Hữu Loan.
Sau 95 năm tồn tại nhọc nhằn nhưng
rắn rỏi giữa cuộc đời, “cây gỗ vuông chành chạnh của” đất Nga Sơn đã nằm
xuống, nhẹ nhàng và thanh thản, để lại cả một pho chuyện kể, thật nhưng
lạ kỳ như huyền thoại, về một lão thi nhân luôn “bận làm người”.
Dưới đây là câu chuyện về tác giả
Màu tím hoa sim từ những ký ức sống động của anh Nguyễn Hữu Đán – con
trai nhà thơ. (Đàn Chim Việt)
Sinh năm 1969, kiến trúc sư Nguyễn Hữu Đán
là con trai thứ tám trong số 10 người con của thi nhân. Tuy sinh sau đẻ
muộn, nhưng trong trí nhớ của anh, tuổi thơ khốn khó và hình ảnh người
cha lầm lụi kiếm gạo nuôi con vẫn là những ám ảnh khôn nguôi.
Anh Đán kể: “Thời đó, nhà nào cũng khổ,
nhưng bố mẹ tôi rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo hơn, vì gia đình sống ngoài
hợp tác, hầu không có tem phiếu, gạo thịt”. 10 đứa con của vợ chồng thi
nhân lần hồi lớn lên bằng những chuyến xe kĩu kịt đá của bố và những mớ
bánh chui nhủi của mẹ – bà Phạm Thị Nhu. Chính sách hồi đó cấm nghiêm
ngặt việc chế biến, buôn bán, giết mổ. Để có mỡ làm bánh, gia đình nhà
thơ từng phải nuôi chui một con lợn trong chuồng kín. Lúc giết thịt, để
ngăn tiếng kêu của con vật, ông phải trộn tro và ớt đổ cho lợn bị sặc,
rồi cho vào bao tải, ngâm xuống ao cho đến lúc chết hẳn rồi mới giết.
Làm ra mớ bánh, gánh bún là bao nhiêu nhọc nhằn, lam lũ của hai vợ chồng
nhưng không phải lúc nào gánh quà của bà Nhu cũng đông buổi chợ.
“Những hôm phòng thuế bắt chợ, cũng như
người ta, gánh bún của mẹ tôi bị hắt xuống hào. Thương con, xót của, mẹ
tôi lội xuống, bốc về. Bố tôi đãi nước cho hết cát để cả nhà ăn trừ bữa.
Nhà đông miệng ăn, gạo thường phải trộn thêm rau, nấu thành cháo, ưu
tiên chia phần theo thứ tự từ đứa bé đến đứa lớn. Nhà tôi giờ vẫn còn
giai thoại về những người anh húp cháo nóng rất nhanh”, kể đến đây, anh
Đán miệng cười, nhưng mũi ửng đỏ, đôi mắt, sau cặp kính trắng, dường như
không dám chớp mi. Người đối diện, chỉ còn cách cũng vờ nhìn quanh
quất, để giúp anh ngăn dòng nước mắt, bước qua một trong muôn vàn đoạn
ký ức khó nhọc chưa chịu phai mờ.
10 đứa con đã lần lượt lớn lên, tưởng như
trời sinh voi, hẳn phải sinh cỏ. Nhưng theo anh Đán, anh chị em anh đã
thành người bởi họ có một người cha kiên cường và một người mẹ biết chắt
chiu, tần tảo. Thi sĩ Nga Sơn, ban ngày mòn vai, chai chân thồ đá, ban
đêm còn vác te vó, xiếc tép nuôi con. Đất nhiều, vườn rộng, ông chịu khó
trồng rau, trồng sắn, để tháng ba ngày tám, phòng lúc đói có sẵn cái để
đào lên cho các con ăn.
Ngoài sự thiếu thốn, cực nhọc về vật chất,
nhà thơ Hữu Loan, theo con trai ông, còn phải chịu đựng nỗi khổ về tinh
thần, trước sự nhiếc móc của họ hàng vì cách sống thẳng thắn và khẳng
khái của ông. Tuy vậy, anh Đán khẳng định, 10 anh em anh chưa từng trách
móc, hờn giận bố về lựa chọn của ông. Ngược lại, họ tự hào vì trong mỗi
đứa con, dù ít dù nhiều đều thừa hưởng sự tài hoa và tính cách trung
thực, thẳng thắn để trưởng thành.
Nghèo khổ, vất vả nhưng con cái của nhà thơ
Hữu Loan đều có tư chất và năng lực. Sự đỗ đạt của những đứa con là niềm
hạnh phúc của mọi bậc cha mẹ, nhưng với riêng nhà thơ Hữu Loan, mỗi lần
con đỗ đạt là một lần ông nhọc lòng, day dứt. Khi con trai cả của nhà
thơ – anh Nguyễn Hữu Cương – đủ điểm đi học ở Liên Xô nhưng không nhận
được giấy báo, nhà thơ đành bất lực để con bỏ dở đường học hành, đi làm
thợ. Đứa con gái thứ hai đỗ Sư phạm, cũng không nhận được giấy báo. Lần
này, thương con, ông quyết tìm ra ngọn ngành. Nhà thơ lên Ty giáo dục
huyện, huyện bảo xuống xã. Về xã, xã bảo lên huyện. Năm lần bảy lượt như
thế. Cuối cùng ông xông thẳng vào Ty giáo dục huyện tìm bằng được giấy
báo cho con. Nay con gái thứ hai của nhà thơ là giáo viên dạy học ở quê.
Trong số 10 người con của Hữu Loan, anh
Nguyễn Hữu Đán là người thành đạt nhất. Tốt nghiệp PTTH, anh ở nhà mở
xưởng cơ khí đỡ đần bố mẹ và các anh em. Sau 5 năm làm thợ, anh ôn thi
và đỗ vào trường kiến trúc. Bây giờ, anh đã có cả một cơ ngơi và là chủ
tịch hội đồng quản trị Công ty cổ phần bảo tồn di sản văn hóa kiến trúc
Việt.
Khi đã có điều kiện, anh muốn làm mua sắm
mọi thứ, để bù đắp cho cả cuộc đời thiếu thốn của bố mẹ. Nhưng những con
người đã quen dành dụm, chắt chiu, đã quen khổ cực dường như vẫn không
muốn thay đổi nếp sống của mình. “Bố tôi vẫn vậy, ăn uống rất thanh
cảnh. Ông hầu như không ăn thịt, chỉ ăn ít cá và rất thích rau, dưa, hay
chuối xanh chấm mắm tôm. Mẹ tôi đến giờ vẫn cặm cụi giữ từng chiếc đũa
sờn, vá từng chiếc thúng rách”, anh Đán kể.
Theo đuổi công tác bảo tồn di sản, anh Đán ý
thức rất rõ, nhiệm vụ lớn nhất của anh là bảo tồn di sản của bố mình.
Hiện tại, anh đã sưu tầm được một số bản thảo, gồm câu đối, thơ, trường
ca và thơ dịch. Anh dự định xuất bản một tuyển tập, viết hồi ký về bố và
xây một nhà lưu niệm nhỏ về nhà thơ tại chính nơi ông đã gắn bó gần như
cả cuộc đời mình.
Trở lại với cái chết của nhà thơ, anh Nguyễn
Hữu Đán cho biết, thi nhân ra đi rất thanh thản. Trước đó vài hôm, ông
còn âu yếm đùa vui với người vợ hồn hậu. “Vài ngày trước khi mất, bố gọi
mẹ vào ngồi cạnh giường. Mẹ tôi lóng ngóng ngồi cả vào chân bố bị khuất
dưới lớp chăn. Ông trìu mến càu nhàu: ‘Sao đã sống với tôi cả 50 – 60
năm mà bà còn đè cả vào chân tôi thế này”. Khi mẹ tôi hỏi: ‘Ông có
thương tôi không?’, bố tôi trả lời: ‘Tôi không thương bà thì thương
ai’”, anh Đán kể.
Nhà thơ Hữu Loan gọi mình là “cây gỗ vuông
chành chạnh”. Một nhà thơ gọi Hữu Loan là “Ông Từ Thức
Nga Sơn”. Còn với các con của nhà thơ, ông trước hết và trên tất cả, là
người chồng, người cha, đã để lại cho vợ cùng 10 người con, 37 đứa cháu
không chỉ di sản thơ ca mà cả một nhân cách sống.
» Radio Bolsa
(6-12pm--
6-10pm / Mon-Fri)
- Nam Calif. LIVE
- Bắc Calif. LIVE
» Little Saigon Radio
- Nam Calif. LIVE
- Houston LIVE
» Việt Nam Hải Ngoại LIVE
» Saigon Radio Hải Ngoại LIVE