Sơn Hà (May-2026)
55 năm trước, trên các hệ thống truyền thông đã truyền đi một mẩu tin về chiến dịch có tên Ivory Coast Operation. Đó là cuộc đột kích vào trại tù Sơn Tây, cách Hà Nội 35 cây số, nơi đang giam giữ khoảng 60 tù binh Mỹ. Tin tình báo cho biết, khu vực bán kính 7 cây số chung quanh trại tù có khoảng 12 ngàn lính cộng sản Bắc Việt đóng quân, với hàng trăm ổ súng cao xạ và hoả tiễn phòng không. Vậy mà, một toán Green Beret của Mỹ bởi sự phối hợp Lục Quân, Không Quân và Hải Quân Hoa Kỳ, gồm 56 biệt kích quân đã đột kích trại tù Sơn Tây rồi rút ra an toàn trong vòng 28 phút. Kết quả, không giải cứu được tù binh nào, nhưng tạo nên một tác dụng rất lớn.
Kế hoạch được thiết lập ra sao và được tiến hành như thế nào? Đã hơn nửa thế kỷ, sự thật dần dần được tháo mở. Nhưng vẫn còn nhiều bí ẩn chưa được hé lộ.
Trong những thập niên 50, 60, 70, nước Việt Nam ở trong tình trạng bị chia hai bởi Hiệp Định Geneve, do cộng sản và thực dân Pháp ký vào ngày 20 tháng 7, năm 1954. Miền Bắc Việt Nam là quốc gia có tên là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, do đảng cộng sản cai trị. Miền Nam Việt Nam là quốc gia Việt Nam Cộng Hoà theo thể chế tự do.
Trong khi miền Nam lo bình định và phát triển xã hội thì miền Bắc quyết tâm đánh chiếm miền Nam. Toàn khối cộng sản từ Liên Xô, các nước Đông Âu cho đến Trung Cộng, viện trợ mạnh mẽ cho miền Bắc trong kế hoạch đánh chiếm miền Nam và xích hoá toàn cầu. Miền Nam được yểm trợ bởi Mỹ và các nước tự do, để tự vệ, chống lại sự xâm lăng của cộng sản, đồng thời xây dựng xã hội tự do và kinh tế thị trường.
Để áp lực cộng sản Bắc Việt tôn trọng hiệp định, Mỹ tiến hành chiến dịch oanh tạc miền bắc để buộc cộng sản Bắc Việt chấm dứt xâm lược miền Nam. Liên Xô và Trung Cộng viện trợ cho miền Bắc các hệ thống phòng không và hoả tiễn chống máy bay. Do đó, nhiều máy bay Mỹ bị bắn rơi trên không phận Hà Nội. Khi phi công nhảy dù ra khỏi máy bay, xuống mặt đất thì bị bắt làm tù binh. Nhà cầm quyền cộng sản Bắc Việt trả thù bằng cách tra tấn dã man, hành hạ các tù binh Mỹ trong lúc bị giam trong nhà tù. Khối cộng sản tiếp tục viện trợ vũ khí dồi dào cho Bắc Việt để xâm lăng Miền Nam.
Vào năm 1966, một mẩu tin truyền hình do đài truyền hình Nhật Bản truyền đi; rồi các hệ thống truyền thông lớn của Hoa Kỳ mua lại và tiếp tục truyền đi bản tin này. Truyền hình đưa tin một Hải Quân Trung Tá Hoa Kỳ, Jeremiah Denton, xuất hiện trước ống kính truyền hình Nhật Bản có vẻ mất bình tĩnh nên phải chớp mắt liên tục, và hình như ông cũng e ngại ánh đèn quay phim. Trước ống kính, Trung tá Denton có những lời “hối lỗi” về hành động của mình, và xác nhận với thế giới rằng tù binh được đối xử tử tế bên trong nhà tù cộng sản Hà Nội. Không ai ngờ, hành động chớp mắt của Denton là để gởi mật mã. Ông đã gởi tín hiệu: T-O-R-T-U-R-E. Phòng Tình Báo Hải Quân ghi nhận được lời nhắn của Trung tá Denton, cho biết cộng sản Hà Nội tra tấn tù binh dã man.
Nhà cầm quyền Hà Nội không biết Denton tìm cơ hội để tố cáo hành động man rợ của cộng sản: tra tấn và hành hạ tù binh.

Jeremiah Denton là phi công trên chiếc oanh tạc cơ A-6, dẫn đầu Phi Đội 75, cất cánh từ Hàng Không Mẫu Hạm USS Independence (CV-62), trong chiến dịch Rolling Thunder, năm 1965. Chiếc phản lực cơ bị trục trặc kỹ thuật, Trung tá Jeremiah Denton và trung uý hoa tiêu Bill Tschudy phải nhảy dù khẩn cấp. Khi đáp xuống mặt đất ở Thanh Hoá; cả hai bị bắt làm tù binh, đem về nhốt tại Hoả Lò.
Cộng sản Hà Nội biết Denton là sĩ quan cao cấp của Hải Quân Hoa Kỳ nên ép buộc ông đọc lời viết sẵn để thu băng lời kêu gọi tù binh hãy hợp tác và cung khai với Hà Nội. Lời kêu gọi này sẽ được phát ra trên hệ thống phóng thanh trong nhà tù Hoả Lò. Jeremiah Denton từ chối việc làm hèn hạ này nên ông bị tra tấn dã man và bị biệt giam. Trong khi những người đồng tù kính nể tinh thần bất khuất của Jeremiah Denton; thì Hà Nội vẫn đeo đuổi, vừa thuyết phục, vừa đe doạ. Cuối cùng, Denton quyết định lợi dụng cơ hội để gởi cho chính quyền Hoa Kỳ một thông điệp: phải có hành động để giải cứu các tù binh Mỹ. Thêm vào đó, tin cũng cho biết nhiều tù binh chết trong tù cộng sản là có thật.
Rồi một ngày, Denton báo cho cai tù rằng, ông sẵn sàng lên án chính quyền Hoa Kỳ về việc đánh phá Miền Bắc Việt Nam. Ông còn cho biết sẽ viết thư xin lỗi gởi tới chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân miền Bắc.
Nhờ vậy, Jeremiah Denton được Hà Nội tin tưởng cho lên truyền hình Nhật Bản. Trong khi miệng nói mình được đối xử tử tế, nhưng mắt thì chớp để đánh Morse Code, gởi cho quân đội và chính phủ Hoa Kỳ, tố cáo rằng, tù binh Mỹ đang bị hành hạ dã man ở Hà Nội. Vào lúc này, tại Hoa Kỳ, các gia đình của các tù binh thúc giục chính phủ Hoa Kỳ phải có kế hoạch thương thuyết với Hà Nội để giải thoát tù binh.
Đến tháng 5-1970, các bức không ảnh chụp từ không phận Hà Nội, hé lộ một dấu hiệu cho biết tù binh Mỹ bị giam giữ ở trại tù Sơn Tây. Các Chuyên Viên Giải Đoán Không Ảnh tin rằng, tù binh Mỹ gởi tín hiệu cầu cứu bằng cách viết chữ “V” trên mặt đất. Một tấm ảnh khác cho thấy dấu gạch chéo giống như chữ “X”. Một lần nữa, dấu hiệu đó là chữ “V”, một mẫu tự của cờ hiệu Hải Quân và hàng hải quốc tế. Chuyên viên cho rằng, đó là ám hiệu của tù binh Mỹ gởi lời cầu cứu.
Có nhiều lần, tù binh Mỹ lợi dụng khi được cho ra làm vườn thì dùng áo quần, hay những nắm đất trong lúc đào mương để gởi tín hiệu cho Không Quân Hoa Kỳ, với hy vọng được nhìn thấy trong không ảnh. Ngoài ra, không ảnh còn cho thấy các vật liệu được đem đến trại Sơn Tây, khiến các chuyên viên đặt nghi vấn Hà Nội mở rộng trại tù tại đây. Ý niệm phải giải cứu tù binh bắt đầu nhen nhúm.
Đến sau năm 1973, khi Hiệp Định Paris được thi hành và tù binh được trao trả, thế giới mới biết về lời nhắn của Denton gởi ra từ mấy năm trước. Chế độ Hà Nội ngậm đắng nuốt cay.
Quân đội Hoa Kỳ hùng mạnh không chỉ nhờ có vũ khí tối tân, mà mỗi người lính được huấn luyện đầy đủ. Họ còn được trang bị tinh thần thương yêu và bảo bọc nhau trong tình đồng đội. Nó thể hiện trong khẩu hiệu “No Man Left Behind” hoặc “Leave No One Behind”. Người lính Hoa Kỳ có một lời tâm niệm, được xem là lời thề mang theo suốt đời. Đó là, không bỏ rơi bất cứ người lính nào, dù đã hy sinh hay bị thương trên chiến trường. Đó là lý do quân đội phải ra tay giải cứu các tù binh đang bị giam trong các nhà tù ở Bắc Việt. Về mặt chính trị, cần cho Hà Nội biết, vấn đề tù binh là ưu tiên hàng đầu đối với Hoa Kỳ.
Mặc dù cộng sản Hà Nội thì vẫn hiếu chiến, tiếp tục tiến hành các cuộc tấn công, phá rối và khủng bố ở miền Nam, nhưng Hoa Kỳ và miền Nam luôn mong đợi cuộc thương thuyết cho hoà bình có kết quả. Tháng 11-1968, Hoa Kỳ đơn phương tuyên bố tạm ngưng oanh tạc miền Bắc để tỏ thiện chí. Tuy vậy, những cố gắng cho cuộc hoà đàm Paris vẫn không tiến triển.
Ngày 8 tháng 5 -1970, Chuẩn tướng James R. Allen, Phụ tá Giám Đốc Kế Hoạch và Chính Sách tại Bộ Tư Lệnh Không Quân Hoa Kỳ, tìm gặp Chuẩn tướng Donald Blackburn, Trợ lý Đặc biệt về Chống Nổi Dậy và Hoạt Động Đặc Biệt của Lục Quân, để thảo luận về nhiệm vụ giải cứu tù binh chiến tranh. Tướng Blackburn, là sĩ quan dày dạn kinh nghiệm du kích chiến trong Thế Chiến II. Ông từng chỉ huy SOG (Studies and Observations Group) trong chiến tranh Việt Nam, là Lực lượng Đặc Biệt Mỹ, được Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ huấn luyện và đào tạo cho chiến trường Việt Nam.
Vị chỉ huy trực tiếp của Blackburn là tướng Earl G. Wheeler, Tham Mưu Trưởng Liên Quân (Joint Chiefs of Staff – JCS) yêu cầu Blackburn thành lập một nhóm 15 người, biệt danh Polar Circle, để nghiên cứu và đánh giá sự khả thi của chiến dịch giải cứu tù binh. Blackburn bổ nhiệm Chuẩn tướng LeRoy Manor, một phi công chiến đấu kỳ cựu, với nhiệm vụ chỉ huy Nhóm Đặc Nhiệm Không Quân Hoa Kỳ.
Phụ tá cho LeRoy Manor, là Đại tá Arthur “Bull” Simons, chỉ huy Lực Lượng Đặc Biệt của Lục Quân, trách nhiệm trực tiếp đột nhập và giải cứu tù binh. Về phía Hải Quân thì có đô đốc Thomas H. Moorer cũng sẵn sàng yểm trợ tối đa. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các quân chủng: Không Quân, Hải Quân và Lục Quân, lần đầu tiên trong lịch sử, được áp dụng cho chiến dịch Ivory Coast Operation, trở thành bài học quý báu cho quân đội Hoa Kỳ.
Cảm tử quân ghi tên tham dự chiến dịch đặc biệt, họ chưa biết công tác là gì, ở đâu, lúc nào. Họ chỉ biết “đích thân” Đại tá Bull tuyển mộ là sẵn sàng lên đường. Họ được huấn luyện tại một căn cứ Không Quân ở Florida qua 5 tháng ròng rã. Ở đây, một mô hình giống như nhà tù Sơn Tây được xây dựng để thực tập. Có tất cả 170 lần thực tập đột nhập; thực tập cho đến khi không còn sai phạm mới thôi.
Rồi một ngày trong tháng 11, 1970, họ được đưa đến “nhà an toàn” ở Thái Lan, để chính thức nghe thuyết trình về công tác đặc biệt sẽ tham dự: Giải Cứu Tù Binh Mỹ ở Sơn Tây, có tên gọi Kingpin Operation, là phần chính nằm trong chiến dịch Ivory Coast Operation. Công tác chính là giải cứu tù binh ở Sơn Tây nên thường được gọi là The Son Tay Raid (Cuộc Đột Kích Sơn Tây).
Đại tá Simons biệt danh là “Bull”, căng tấm bản đồ, thuyết trình với nhiều chi tiết. Sơn Tây cách Hà Nội khoảng 35 cây số về hướng tây. Những người lính cảm tử sẽ vào đất địch bằng trực thăng, giải thoát tù binh và đem họ về bằng trực thăng. “Đích thân” cho biết, đây là công tác “giải cứu tù binh”, chuyến này nếu bị lộ, rơi vào tay của quân thù, sẽ khó thoát. Bởi vì, phải vượt cả trăm dặm mới về đến đất Lào để được cứu thoát.
Không khí nặng nề; tất cả lặng im. Rồi bỗng vang lên những tiếng la như những con ngựa hoang: “Let’s go get ‘em!”. (“…raring like broncos, yelling “Let’s go get ‘em!” – Buckler, Terry, Who Will Go Into The Son Tay POW Camp, Palmetto, 2020).
Đem mọi người trở về thực tại, Đại tá Simons (Bull) nói rằng, cơ hội cho các anh là 50/50 – giữa sống và chết: “…this is strictly a volunteer mission. If any man has a reason that he should not go on this mission, he should decide now” (…việc tham gia này hoàn toàn tự nguyện; nếu ai có lý do không nhận nhiệm vụ này, nên quyết định ngay bây giờ – Buckler, Terry, Who Will Go , Palmetto, 2020). Đại tá Simons nhấn mạnh, chúng ta đi cứu tù binh chứ không nhận tù binh. Chiến dịch này tối mật. Tất cả đồng lòng đi giải cứu anh em tù binh đang bị Hà Nội tra tấn và giam cầm.
Terry Buckler, người lính biệt kích có mặt trong chiến dịch này, kể lại trong sách rằng, có nhiều trăm người ghi danh tình nguyện tham dự chiến dịch “đặc biệt”. Sau khi huấn luyện và nhiều lần chọn lọc, còn lại khoảng 100 người lính biệt kích tinh nhuệ được bay đến Thái Lan để chuẩn bị vào đất địch. Rồi thêm một lần chọn lọc, chỉ có 56 biệt kích trang bị vũ khí và thiết bị, bước lên trực thăng bay đến Sơn Tây. Ngoài lính biệt kích, còn có hàng trăm sĩ quan chuyên viên thuộc Không Quân chiến đấu, tác chiến điện tử, đặc nhiệm, truyền tin, chuyển vận, tiếp liệu,… Về Hải Quân, từ Hạm đội 7 Thái Bình Dương, nhiều oanh tạc cơ, máy bay trinh thám, chuyên viên radar và tác chiến điện tử của Hải Quân,… cùng phối hợp công tác. Quân đội Hoa Kỳ chấp nhận khó khăn và bất kể tốn kém, chung góp bàn tay, lên đường đi Giải Cứu Tù Binh ở Sơn Tây.
Nửa đêm 20, rạng 21 tháng 11-1970, oanh tạc cơ cất cánh từ hàng không mẫu hạm của Hạm Đội 7 ngoài khơi vịnh Bắc Việt, bay vào vùng trời cảng Hải Phòng và thủ đô Hà Nội, gầm vang và bắn trái sáng rực trời, khuấy động hệ thống phòng không của Bắc Việt. Bắc Việt bị đánh thức trong ngỡ ngàng. Mỹ đã bảo là ngưng oanh tạc, nhưng đêm nay lại bất thình lình hành động?!
Vài ngày trước, nhiều bài bình luận trên báo chí của thế giới viết rằng, Hà Nội giữ tù binh như những con tin để ra yêu sách trong lúc đàm phán hoà bình, khiến Mỹ mất kiên nhẫn. Mỹ có thể sẽ dùng biện pháp quân sự để giải quyết chiến tranh. Tâm lý của Hoa Kỳ là quý trọng con dân Mỹ đang bị Hà Nội sử dụng để mặc cả khi thương thuyết. Xã hội Hoa Kỳ dấy lên các phong trào phản chiến đòi hỏi chính phủ phải hành động.
Như tin đã biết, tháng 11-1968, chính phủ Hoa Kỳ đơn phương tuyên bố tạm ngưng dội bom miền Bắc và kêu gọi Hà Nội thực tâm chấm dứt chiến tranh, để Mỹ có thể đem tù binh về nhà. Trong khi cộng sản Hà Nội thì cho rằng Mỹ đã mệt mỏi vì chiến tranh. Trong lúc Mỹ ngưng oanh tạc thì Hà Nội lại xin Liên Xô và Trung Cộng cải tiến hệ thống phòng không và tiếp tục cò cưa cuộc hoà đàm, kéo dài chiến tranh.
Bỗng dưng, tháng 11-1970 Mỹ lại gây ồn ào trên không phận Hà Nội và Hải Phòng. Oanh tạc cơ cất cánh từ Hạm Đội 7 thay phiên bắn những trái sáng tưng bừng trên bầu trời Hà Nội và cảng Hải Phòng. Đó là chiến thuật “dụ địch” và “lừa địch”, kéo Hà Nội quay về hướng đông, để hở sườn ở phía tây cho trực thăng đưa biệt kích Mỹ vào Sơn Tây.
Màn ảnh radar Hà Nội bị nhiễu sóng, xuất hiện vô số các chấm đen, gây tinh thần bối rối trong lực lượng phòng không của Hà Nội. Hệ thống radar bị phá rối trong 3 tiếng đồng hồ, kể từ 1:00 sáng ngày 21 tháng 11-1970.
Phản ứng tức khắc của quân Bắc Việt là bắn lên trời những hoả tiễn tầm nhiệt rượt theo các hoả châu. Đêm nay là biến cố bất ngờ đối với Hà Nội. Tiếng nổ ầm vang, còi hụ báo động kêu gọi dân chúng xuống hầm trú ẩn, binh sĩ vào vị trí chiến đấu. Không thấy bom rơi, không nơi nào bị oanh tạc, chỉ có hoả châu rực trời; phản lực cơ Phantom bay lượn nghênh chiến chờ MIG của Bắc Việt xuất hiện, nhưng không có cuộc không chiến nào, cũng chẳng có máy bay nào bị bắn rơi.
Ở thị trấn Sơn Tây, hướng tây của Hà Nội, bốn chiếc trực thăng dùng cho Cuộc Đột Kích, và hai chiếc dự trù để chở tù binh. Hàng chục khu trục cơ, phản lực cơ được dùng để triệt hạ các trạm radar, ổ cao xạ phòng không, phá hai cây cầu bắc qua sông Sóng Cồn (một nhánh sông Hồng chảy qua Sơn Tây). Chiếc trực thăng thứ nhất triệt hạ các tháp canh, chiếc thứ hai đáp nhanh đưa lính biệt kích vào sân trại tù, bị vướng và cánh quạt chặt hết cành cây làm thành một vùng trời trống trải để chiếc thứ nhất thả hoả châu chiếu sáng. Hai trực thăng khác đưa hai toán yểm trợ và an ninh vào vị trí và để tiếp tay cho toán đột kích.
Các chiến sĩ biệt kích bắt loa kêu gọi các tù binh nằm rạp xuống để tránh đạn và cho biết biệt kích Mỹ đến cứu. Các phòng giam bị phá cửa, nhưng không thấy tù binh nào. Những người lính Bắc Việt cai tù phản ứng bằng súng máy cá nhân bị triệt hạ nhanh chóng. Sau khi kiểm soát các phòng giam, các biệt kích Mỹ nhiều lần xác nhận phòng giam trống rỗng (Negative items!).
Toán biệt kích rút lui, không có tù binh đem theo. Họ bỏ lại một trực thăng, phải phá huỷ trước khi rút lui, sau 28 phút hành động. Hai người lính biệt kích bị thương nhẹ ở chân, không ai thiệt mạng. Chiến dịch Kingpin Operation được xem là kết thúc.
Trên đường trở lại Thái Lan, những người lính biệt kích tỏ ra thất vọng vì không giải cứu một người tù nào. Toán biệt kích đem theo đồ nghề để phá cửa, phá cùm, cắt xích, nhưng tất cả tù binh, cùm và xích không còn thấy trong phòng giam. Hình như tất cả người tù đã được di chuyển đến một nơi khác từ nhiều tháng, trước khi có cuộc đột kích. Tin tức nhanh chóng gởi về các vị chỉ huy ở Ngũ Giác Đài và Toà Bạch Ốc. Không có tù binh ở Sơn Tây!

Cố vấn Kissinger vội vàng cho đó là thất bại. Nhưng, các vị chỉ huy trực tiếp, kể cả Tổng thống Nixon, thì nói, cuộc đột kích thành công. Toán biệt kích đã làm đúng và hoàn thành nhiệm vụ. Họ đã đến nơi để giải cứu tù binh và rút lui êm thắm, không có tổn thất nào. Họ đã đến nơi nhưng không giải cứu được tù binh nào bởi vì không có tù binh ở đó. Báo chí được dịp khai thác, cho đó là sự thất bại và lên án các cơ quan tình báo Mỹ không cung cấp tin tức cập nhật. Tuy nhiên, các vị chỉ huy cao cấp ở Toà Bạch Ốc vẫn nhìn nhận đó là cuộc hành quân thành công về mặt chiến thuật. Phương tiện và vũ khí được sử dụng đúng chỗ và hiệu quả.
Nhiều dữ kiện được giải mật sau nhiều năm giữ kín, nhưng vẫn còn một số vụ nhạy cảm mà tình báo Mỹ ở Asia vẫn không bao giờ xác nhận. Điển hình, vụ “tụ mây và làm mưa” ở những nơi chung quanh Hà Nội. Thứ đến, vụ chiếc trực thăng Apple1 tách ra khỏi đội hình và đáp “lộn chỗ” ở một “trường trung học”. Trên chiếc Apple1 này mang theo 22 người lính Biệt Kích và đại tá Simons, chỉ huy trưởng chiến dịch.
Trong cuốn “The Raid”, tác giả Benjamin F. Schemmer (1976), nêu thắc mắc là tại sao trước khi tiến hành cuộc đột kích, phòng Tình Báo của đơn vị CIA tại Thái Lan không cho sĩ quan kế hoạch xem bản báo cáo thời tiết, viện cớ chưa được “clearance(!)”. Schemmer tìm được dữ kiện trong kho dự trữ của CIA-Asia, lúc đó tình báo Mỹ đang tiến hành Popeye Operation, khiến mực nước sông Hồng dâng cao khác thường. Thời tiết chung quanh Hà Nội bị chiến dịch Popeye của CIA làm thay đổi, khiến cho kế hoạch cuộc đột kích phải đổi giờ hành động. Tuy nhiên, CIA cho biết điều kiện thời tiết thuận lợi cho cuộc đột kích trong hai ngày 20 và 21 tháng 11, 1970.
Benjamin F. Schemmer là bỉnh bút kỳ cựu của Armed Forces Journal, đã có dịp phỏng vấn các nhân sự có liên hệ đến Ivory Coast Operation để thu thập dữ kiện viết sách “The Raid”, xuất bản năm 1976. Những lần tái bản về sau, ông lặn lội đến Hà Nội tìm cách tiếp xúc với dân chúng hay cán bộ sống sót từ vụ đột kích Sơn Tây. Ông trả tiền cho những cuộc tiếp xúc. Ông cho nhà xuất bản Công An Nhân Dân của Hà Nội dịch cuốn sách The Raid ra tiếng Việt để xem họ cắt bỏ chỗ nào. The Raid được dịch là “Vụ Tập Kích Sơn Tây”, xuất bản năm 2001, chỉ được lưu hành nội bộ để học hỏi. Ở đoạn chiếc trực thăng Apple1 đáp lộn chỗ bị cắt bỏ, không cho biết lý do.
Trong những cuốn sách viết về cuộc Đột Kích Sơn Tây, cuốn sách “The Raid”, của Benjamin F. Schemmer xuất bản sớm nhất với nhiều điều gây tranh cãi, trước khi được giới thẩm quyền giải mật các chi tiết, từ việc lập kế hoạch đến phương tiện, vũ khí, nhân sự và giờ hành động. Càng về sau, có nhiều sách do người trong cuộc kể lại, bao gồm những điều đã được Benjamin Schemmer đề cập đến, từ nhiều năm trước. Benjamin F. Schemmer viết rằng, người dân Hà Nội cho biết mưa nhiều chung quanh khu vực Hà Nội và Hà Tây, khiến mực nước sông Hồng dâng cao ở nhiều khu vực. Schemmer ngờ rằng, đây là lý do tù binh được đem đi nơi khác.
Vào ngày 12-Sep-1976, Kevin Buckley viết bài điểm sách đăng trên nhật báo New York Times, nhan đề “A Classic Military Snafu – The Raid”, rồi gởi đến văn phòng CIA yêu cầu xác nhận những dữ kiện trong sách “The Raid”. Hơn 30 năm sau, tháng Giêng-2005, CIA xác nhận chính CIA đã tiến hành Popeye Operation. Popeye Operation là công tác khoa học làm mưa nhân tạo. Mục tiêu của chiến dịch này là gì, đến nay vẫn còn giữ kín. Một mô hình sa bàn trại giam Sơn Tây, với kích thước thật, được CIA thực hiện ở Florida để các biệt kích sử dụng trong thời gian thực tập. Các dữ kiện khác, CIA vẫn không xác nhận. Chuyện Apple1 “đáp lộn chỗ” cũng nín thinh.
Một bài điểm sách khác được đăng trên nhật báo Washington Post vào ngày 19 tháng 8-1976, của bỉnh bút David Martin, đăng trong tiết mục điểm sách, tựa đề “Chronicling the Sontay ‘Failure’”. Martin cho rằng, Schemmer ghi lại những kinh nghiệm quý báu cho lãnh vực quân đội và tình báo. Martin nhắc lại lời khẳng định của Schemmer rằng, “No one needs to apologize for the ‘failure’ at Sontay” (Không ai cần phải xin lỗi vì ‘thất bại’ tại Sơn Tây). Martin đánh giá lối viết cứng cỏi của Schemmer, một thứ “ngôn ngữ ngang tàng”, không có vẻ văn chương bóng bẩy. Thật ra, cuộc đột kích Sơn Tây là một thắng lợi về mặt chiến thuật. Đội biệt kích đã vào đến mục tiêu và rút ra an toàn, không tổn thất. Martin đồng ý với Schemmer về đánh giá cao cho sự phối hợp nhịp nhàng giữa các quân chủng: Lục Quân, Không Quân và Hải Quân.
Về mặt tin tức tình báo thì Schemmer phê bình sự mâu thuẫn giữa các cơ quan tình báo Hoa Kỳ do phương thức và tiêu chuẩn khác nhau. Tù binh đã được dời đi nơi khác đã lâu mà lực lượng hành động vẫn không biết(?).
Tuy nhiên, Martin nghi ngờ, và đặt nghi vấn, có phải “Senior intelligence officials knew both from aerial reconnaissance and from an agent inside Hanoi that the prisoners had been moved, but could not bring themselves to cancel the raid”. (Các viên chức tình báo cấp cao biết tin tù binh đã được dời đi, do ở tài liệu không ảnh và các báo cáo từ các điệp viên đang hoạt động tại Hà Nội, nhưng họ không nỡ hủy bỏ cuộc đột kích). Bởi vì trong “The Raid”, Schemmer viết, có bằng chứng rõ ràng là tù binh đã được dời đi lâu rồi. Nhưng tất cả đã phớt lờ. Schemmer cũng trích dẫn lời của tướng Blackburn của Ngũ Giác Đài, ““…I wanted to demonstrate that we could get in there and pull their chain“. (Tôi muốn chứng tỏ chúng ta có thể vào đến nơi để giải thoát họ).
Thật vậy, biệt kích Mỹ đã vào đến nơi, tuy không giải cứu một tù binh nào nhưng đã tiêu diệt hàng trăm kẻ địch trong vòng 28 phút, không mất một người lính biệt kích nào. Đây lại là một dữ kiện nhức nhối, báo chí vẫn chờ đợi cơ quan tình báo CIA và tình báo quân đội xác nhận.
Tháng Giêng, năm 2005, (30 năm sau) cơ quan CIA trả lại bản copy bài viết của David Martin, với con dấu đã nhận được bài của Washington Post vào ngày 19 tháng 8-1976 và ghi vào sổ văn thư. Nhưng không xác nhận phần nào đúng, điểm nào không đúng.
Cũng nên quay lại lời thuyết trình của Đại tá Simons trước khi lên đường. Sách “Who Will Go – into the Son Tay POW Camp” của Terry Buckler và Cliff Westbrook, kể lại lúc Đại Tá Simons “Bull”, nhắc nhở trước khi lên đường: “…You are to let nothing, nothing interfere with the operation. Our mission is to rescue prisoners, not to take prisoners”[Chapter 14] (Anh em không được để cái gì cản trở chiến dịch. Nhiệm vụ là giải cứu tù binh, chứ không nhận tù binh). Ngôn ngữ sắc như dao. Vào lúc ấy, chưa chắc các biệt kích quân hiểu được thâm ý. Cho đến khi chiếc trực thăng Apple1, mang theo Đại tá Simons “Bull” và 22 biệt kích có nhiệm vụ đột kích trại tù Sơn Tây, nghiêng cánh, tách khỏi đội hình đáp xuống một ngôi “trường trung học” ở phía nam của trại tù Sơn Tây, rồi phát giác “đáp lộn chỗ” sau khi khám phá ở đây có toà nhà hai tầng lầu, và các gian nhà chung quanh với hàng trăm binh sĩ, cao lớn và không nói tiếng Việt Nam.
Khuôn viên trường trung học này có đánh dấu rõ ràng trong bản đồ và sa bàn mà các biệt kích, ai cũng biết. Có súng máy bắn ra từ cửa lớn và cửa sổ, nhưng các biệt kích Mỹ đã nhanh chóng vô hiệu hoá bằng súng phóng lựu rồi phóng hoả đốt. Về sau, đại tá “Bull” cho biết các binh sĩ này cao lớn hơn bộ đội Bắc Việt rất nhiều, không phải là người Việt Nam. Lính “ngoại quốc” có mặt ở Bắc Việt là để huấn luyện phòng không cho bộ đội Bắc Việt. Có đến hàng trăm người lính ở “trường trung học” này.
Sau năm 1973, các tù binh được trao trả, những người từng bị nhốt ở Sơn Tây cho biết họ bị nhân viên thẩm tra người Cuba tra tấn dã man.
Trên máy truyền tin, lệnh của “đích thân” bảo đổi qua “kế hoạch xanh”. Phụ tá của ông đã thay mặt “đích thân” chỉ huy cuộc đột kích trại tù Sơn Tây và không tìm thấy một tù binh nào. Các chòi canh và các bộ đội canh gác trại tù bị san bằng nhanh chóng bằng minigun từ trực thăng.
Những dữ kiện này, tình báo CIA và cả tình báo quân đội không xác nhận, mà cũng không phủ nhận. Họ chỉ ghi nhận câu hỏi và ghi ngày giờ nhận được.
Khi Toà Bạch Ốc công khai thông báo về kết quả của cuộc Đột Kích Sơn Tây, rằng cuộc đột kích thành công về mặt chiến thuật, nhưng không đạt được kết quả: không một tù binh nào được giải cứu. Báo chí Tây phương nhanh chóng khai thác mặt tiêu cực của chiến dịch, cho đó là một sự thất bại, vì không đem về một tù binh nào từ Sơn Tây. Các hãng thông tấn Reuters, đài phát thanh BBC và các nguồn tin ở Âu Châu đồng loạt đưa tin với các dữ kiện lấy từ đài phát thanh Hà Nội. Cho rằng, đảng và nhà nước Hà Nội biết trước nên đã dời tù binh đi nơi khác và đã bắn rơi một trực thăng của đế quốc Mỹ.
Hai ngày sau, tất cả bị hố to vì đã loan tin “vịt” đến từ Hà Nội. Trong khi đó…





Báo chí ở miền Nam, nhật báo Cấp Tiến, Chính Luận, Tiền Tuyến,… loan tin theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, rằng quân đội Hoa Kỳ đưa hàng không mẫu hạm Ranger đến vịnh Bắc Việt cùng với trực thăng đưa cảm tử quân đến Sơn Tây để giải cứu tù binh.
Báo Cấp Tiến, số ra ngày 26 tháng 11-1970 còn viết “Hà Nội bố phòng cẩn mật, tăng cường bảo vệ các lãnh tụ”. Nhật báo Cấp Tiến, số ra ngày 08-12-1970, chạy tin trên trang nhất, “Lại thêm một bí mật được phát giác, nhiều Cán Bộ cao cấp của VC bị Hoa Kỳ bắt ở Sơn Tây. Căn trại quân Mỹ đổ bộ ở Sơn Tây không phải là trại tù binh mà là chiêu đãi sở dùng để đón cán bộ MTGPVN ra Bắc hội họp, nghỉ ngơi”. Những tin tức này, đến nay vẫn còn là nghi vấn, chưa được giới thẩm quyền xác nhận.
Nhưng, một điều tích cực đã xảy ra là các tù binh Mỹ từ các trại lẻ tẻ được gom về Hà Nội và được ở chung với nhau trong nhà tù Hoả Lò. Đời sống tù binh được cải thiện về phần ăn và các mặt sinh hoạt hàng ngày. Đến khi được trao trả vào đầu năm 1973, họ cho biết, từ khi có cuộc “Đột Kích Sơn Tây”, cộng sản Hà Nội có thay đổi lớn về cách cư xử đối với tù binh. Đó là thành quả lớn. Ở Hoa Kỳ, phong trào cứu nguy các tù binh Mỹ sinh hoạt mạnh mẽ hơn, với sự ra đời của lá cờ màu đen “You Are Not Forgotten”.

Tuy nhiên, có người còn đặt giả thuyết, nếu đêm ấy, chiếc trực thăng Apple1 không “đáp lộn chỗ” thì biến cố gì đã xảy ra?
Nếu đêm ấy đem về một số tù binh Mỹ thì số phận những người tù còn lại, …sẽ ra sao?
Sơn Hà (May-2026)
////////////
Tài Liệu Tham Khảo:
Sách và bài biên khảo viết về cuộc Đột Kích Sơn Tây 1970:
-Son Tay 1970 – by Justin Williamson (2024)
-The Son Tay Raid – by John Gargus (2007)
-Secret and Dangerous – by William A. Guenon, Jr (2003)
-The Raid – by Benjamin F. Schemmer (1976)
-When Hell Was in Session – by Jeremiah Denton
Bài phân tích đăng trên tạp chí và Website:
-Operation Kingpin – Success or Failure – by William C. Thomas
Joint Force Quarterly – Spring 1996
-https://en.wikipedia.org/wiki/Operation_Ivory_Coast
-https://www.airforcespecialtactics.af.mil/About/History/Chronology/1970S
-https://www.nationalmuseum.af.mil/Visit/Museum-Exhibits/Fact-Sheets/Display/Article/196019/rescue-attempt-the-son-tay-raid
-https://www.army.mil/article/241352/operation_ivory_coast_a_mission_of_mercy
-trích đoạn trong sách:
https://www.legion.org/information-center/news/magazine/2013/september/when-hell-was-in-session
-về đại tá Jeremiah Denton
https://www.instagram.com/reel/DLP2gJSs00F/
-http://www.veterantributes.org/TributeDetail.php?recordID=104
-http://babalublog.com/2015/05/23/cubas-casstro-dictatorship-sent-torturers-to-vietnam-to-interrogate-american-pows/
|
|
|