Translate this page: English French German Spanish Vietnam

“Buồm Cao Ghi Dấu Can Trường”

Nơi đây hương khói ngàn thu,
 Thuyền nhân tạm nghỉ trong mồ trùng dương
 Buồm cao ghi dấu can trường,
 Trống thiêng gọi kẻ bốn phương tìm về.

Ngày đầu năm 2005, nhân dịp về Nam California, gia đình tôi có gặp quý giáo sư Lưu Trung Khảo và Trần Huy Bích ở Viện Việt Học. Thầy Huy Bích có tặng một tài liệu quý giá vô cùng. Đó là bài thơ chữ Nôm ghi trên Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân được xây ở đảo Bidong thuộc Malaysia. Người Mã Lai và thuyền nhân Việt Nam gọi đảo này là Pulau Bidong; Pulau là đảo, Bidong là tên của hòn đảo ấy.

Thầy Huy Bích kể lại, có một người tìm đến Thầy nhờ đọc bài thơ chữ Nôm. Bài thơ này đã được khắc trên Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân ở đảo Bidong mà họ ngờ ngợ không biết có chữ nào không đúng chăng? Trước khi nói đến câu chuyện chung quanh bài thơ, xin được nói về Pulau Bidong và chuyến vượt biển với nhiều Ơn Lành.

Vài nét về đảo Bidong

Đảo Bidong có đường kính khoảng 2 cây số, diện tích khoảng 260-ha, nhưng khoảnh đất bằng phẳng sát bờ biển phía nam mới là nơi thuyền nhân Việt Nam tập trung tạm trú. Phần còn lại là đồi núi, cây rừng hoang, và đá núi lởm chởm, đổ từ trên đỉnh cao xuống tận bờ biển. Trên đỉnh núi cao và dọc theo triền núi, có rất nhiều cây sao. Cây sao là loại cây dẻo dai được người Việt dùng làm gỗ đóng thuyền. Cây sao ở đây không lớn lắm. Gần bờ biển thì có nhiều cây dừa.

Đây là đảo hoang, không có người ở. Chính phủ Mã Lai đã dành làm nơi tạm trú cho thuyền nhân Việt Nam với sự bảo bọc của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc

Con thuyền Long An Mang 33 Thuyền Nhân

Thuyền tôi dài 11 thước, bề ngang 3 thước, đăng bộ ở Long An, là loại thuyền kéo/đẩy trên sông, được sửa chữa để có thể đi ra biển. Bánh lái được làm lại bằng sắt thay vì bằng gỗ, mạn thuyền được đưa cao hơn; thêm cabin bên trên phòng máy, tay lái được đưa vào cabin với lực truyền bằng dây cáp. Trong cabin có chỗ để gắn hải bàn và có nơi trải bản đồ vẽ đường đi. Cạnh máy nổ có thùng chứa dầu cặn (diesel), nhiên liệu chạy máy. Số dầu được dự trù đủ để đi trên biển 7 ngày. Nước ngọt được chứa trong các thùng nylon đặt dọc theo hai bên trong khoan thuyền. Thực phẩm dự trữ là cốm dẹp, là cốm làm bằng lúa mạch phơi khô và một ít cá khô.

Thuyền được đặt ở Rạch Ông, gần Tân Cảng Sài Gòn ở để tu bổ. Trưởng ban tổ chức là vị sĩ quan QLVNCH bị ba năm tù cộng sản, gọi là tù cải tạo. Vị sĩ quan này là nhân vật chủ yếu của chuyến đi. Ông lo việc mua thuyền, tìm thợ sửa, mua vật liệu để sửa vỏ thuyền, bánh lái, trục máy, chân vịt,… Cả việc mua bản đồ, hải bàn, dầu diesel, thực phẩm,… Vị sĩ quan này là người móc nối những người cùng chung góp phí tổn cho chuyến đi. Ông đã tìm được hai vị sĩ quan hải quân; một người chuyên đường sông, một người chuyên đường biển, đã nhiều lần dẫn tàu Hải Quân Việt Nam đi sửa chữa ở Singapore.

Thuyền chạy từ Rạch Ông, theo sông Sài Gòn xuống miền Tây, qua Tiền Giang rẽ vào con kênh Giao Hoà để vào sông Bến Tre. Thuyền chúng tôi neo ở một góc khuất sau nhà của một tín hữu Phật Giáo Hoà Hảo. Tín hữu này chúng tôi đưa người lên thuyền, và ra cửa biển. Sức chứa của thuyền được dự trù khoảng 25 người, nhưng đến khi nhổ neo thì đếm được 33 người gồm ông già bà cả, thanh niên, đàn ông, phụ nữ, và con nít. Lớn tuổi nhất là bà lão 80 tuổi, nhỏ nhất là bé gái mới đẻ bốn tháng. Ông cụ cho chúng tôi biết Cửa Hàm Luông không có công an cộng sản giám sát vì cửa sông này nhiều sóng, ít ghe thuyền ra vào cửa này. Ngoài ra, đoạn đường sông Hàm Luông trước khi ra cửa biển, có nhiều cồn cát và các đáy (lưới để bắt cá) của dân địa phương khiến ghe thuyền gặp khó khăn khi đi qua khúc sông gần cửa biển.

Thật vậy, vì không quen đường, thuyền chúng tôi bị mắc cạn ở một cồn cát khiến bánh lái bị gãy, chân vịt bị cong. Nhiều người phải xuống thuyền để đẩy thuyền ra khỏi cồn cát rồi tìm cách vào bờ, để tháo chân vịt và bánh lái đem đi sửa. Rất may, chúng tôi sửa được chân vịt và bánh lái và tiếp tục lên đường. Chúng tôi đã bị nghi ngờ nhưng may mắn thoát khỏi những rắc rối. Ai đó đã quyết định rước người và khởi hành ngay tại Bến Tre, thì ít bị theo dõi, quả là sáng kiến tuyệt vời.

Để tránh những trở ngại đã gặp, chúng tôi tìm người quen đường để dẫn thuyền ra cửa biển. Chúng tôi đến cậy nhờ ông cụ PGHH. Ông nhận lời. Đêm nay chúng tôi khởi hành khi trời sụp tối. Ông đốt một bó nhang rồi cắm sau lái ghe của ông và bảo thuyền chúng tôi theo đóm lửa chạy theo phía sau. Quá nửa đêm, chúng tôi ra đến cửa biển Hàm Luông.

Quả thật, chúng tôi gặp những cơn sóng mạnh ở cửa sông. Sóng không lớn nhưng dồn dập. Con thuyền lượn mình trong sóng nghe răng rắc và nước vỗ ngược dưới lườn nghe ầm ầm, con thuyền có lúc như muốn gãy làm hai.

Thuyền Ra Cửa Biển

Chúng tôi không còn thấy đốm lửa của chiếc ghe ông cụ PGHH. Chắc ông đã quay trở lại, để lại chúng tôi bắt đầu chống chỏi với những làn sóng và tiến ra biển khơi. Người trong thuyền bắt đầu say sóng và nằm dài, không thấy ai nhúc nhích gì. Chúng tôi bắt đầu lấy bản đồ và hải bàn đã được cất giấu trong mũi thuyền. Hai vị sĩ quan hải quân bắt đầu làm việc với nhau để vẽ đường đi. Bản đồ trải ra trên bàn, dùng đèn pin và thước parallel để chấm points vẽ hải lộ. Lúc này tôi mới thấy tấm bản đồ vẽ bằng viết chì, vẽ lại từ một bản bồ của hải quân. May mà ở góc bên phải có vòng tròn 360 độ để có thể đo góc. Hải bàn thì không dùng được vì nó quay rất chậm trong lúc thuyền đang gặp nhiều sóng gió. Chúng tôi phải thay nhau bò ra mũi thuyền để vừa nhắm sao, vừa coi chừng những lượn sóng lớn thì réo lên “bên trái 30”, “bên phải 20”, “lấy hết bên phải”, “lấy hết bên trái”,… Người bên trong phòng lái theo đó mà quay tay lái. Chúng tôi nhắm hướng đông đi ra biển Thái Bình Dương.

Khi ra khỏi cửa biển, sóng bắt đầu êm lại, chúng tôi cảm thấy nhẹ nhàng và bắt đầu nghe vị Hải Quân Thiếu Tá giảng giải. Thuyền chúng tôi sẽ đi Singapore vì Mã Lai và Thái Lan không cho thuyền tỵ nạn cặp bến. Tàu hải quân của họ sẽ ngăn cản chúng tôi.

Chúng tôi sẽ đi phải tránh xa đảo Côn Sơn để khỏi gặp VC. Ra khỏi Cửa Hàm Luông, chúng tôi nhắm hướng 110 độ, rồi đổi qua 170 độ, rồi 210 độ. Chỉ được vài tiếng đồng hồ ngắn ngủi, Thái Bình Dương lại nổi sóng. Có hai bà lão xin được ngoi đầu ra khỏi khoang thuyền để cầu nguyện với Phật Bà Quan Thế Âm. Có người cầu nguyện Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria. Cầu cho sóng êm biển lặng, cầu cho chuyến đi bình an, đến bến tự do.

Qua hai ngày chống chọi với sóng gió, thuyền chúng tôi bị ngập nước, kêu cầu các thanh niên trên thuyền tiếp tay tát nước. Tuy ai cũng ngất ngư nhưng cũng cố gắng tát từng gáo nước để thuyền bớt ngập nước. Qua khỏi Côn Sơn, thuyền theo hải trình 210 độ, hướng về Singapore. Chúng tôi gặp tàu đánh cá Thái Lan. Từ xa họ gọi chúng tôi đến gần để được giúp. Dùng ống nhòm, trông thấy những tên Thái Lan mặt mày dữ tợn. Ông sĩ quan nói lớn, “hải tặc Thái Lan”. Tàu Thái Lan đang thả lưới ở nước sâu nên không kịp xoay trở để đuổi theo chúng tôi. Thuyền chúng tôi xả hết tốc lực bỏ chạy. Không bao lâu, chúng tôi bỏ họ thật xa rồi mất hút sau những đợt sóng cao.

Thuyền Đổi Hướng Để Vào Mã Lai

Chúng tôi gặp chiếc tàu rất lớn đang thả neo ở nước sâu, mang cờ Anh Quốc, tưởng sẽ được cứu vớt. Họ từ chối và cung cấp cho chúng tôi nước ngọt và thực phẩm. Vị thuyền trưởng yêu cầu cho xem bản đồ với hải lộ đã vẽ xem thuyền có đi lạc không. May thay, ông cho biết chúng tôi đã đi đúng như đã vẽ. Ông vẽ thêm vào bản đồ hướng về bờ Mã Lai gần nhất. Ông nói như ra lệnh, đổi từ 210 sang 270 độ và đề nghị nên vào bờ ngay vì một cơn bão rất lớn sẽ đến trong vòng 2 ngày nữa. Chúng tôi nghe lời và kêu gọi mọi người, ai còn khoẻ hãy giúp tát nước và chuẩn bị vào bờ trong hai ngày nữa.

Qua hai ngày, chúng tôi đã thấy vài khúc cây khô trôi trên mặt nước và vài con hải âu bay lượn. Chúng tôi biết đã gần bờ. Nhìn phía xa đã thấy thấp thoáng đất liền. Lúc này, đất liền là thiên đàng! Những người trên thuyền truyền nhau niềm vui mừng.

Qua ống nhòm chúng tôi nhìn thấy dân chúng tay cầm dao mác, khoảng một chục người đứng ở bờ biển đón chờ chúng tôi. Chắc chắn là họ sẽ cướp rồi xua đuổi chúng tôi trở ra biển, giống như tin tức đã nghe trước đây trên VOA và BBC.

Đến lúc này, ông sĩ quan chỉ huy quyết định quay mũi thuyền hướng xuống phía nam, chạy thật nhanh, ủi vào bờ, rồi nhanh chóng phá máy và mở van để đánh đắm thuyền trước khi những người dân Mã Lai kịp đến để bắt chúng tôi phải ra đi.

Chúng tôi chấp nhận để bị cướp nhưng không thể trở ra biển vì bão sắp đến. Không bao lâu, khi vừa đưa tất cả mọi người lên bờ an toàn thì cơn bão cũng vừa tới và thuyền đã ngập nước gần chìm. Không biết từ đâu có nhiều người lính đến kịp lúc để can thiệp không cho những người dân có dao mác đánh cướp những thuyền nhân vừa bước chân lên đất Mã Lai.

Những người lính cho chúng tôi biết đây và tỉnh bang Terengganu của vương quốc Mã Lai Á, họ hứa sẽ bảo vệ chúng tôi. Họ cho xe đưa chúng tôi về trại lính để tạm trú khoảng 10 ngày chờ tàu đưa chúng đến đảo Bidong.

Về sau, chúng tôi nghiệm lại, có lẽ vị thuyền trưởng của tàu Anh Quốc đã gặp hai hôm trước, đã đánh điện cho biên phòng Mã Lai để thông báo về số phận của chúng tôi.

Đến Đảo Bidong

Mới đến thì thấy đảo hoang sơ, với những cây dừa cao vút. Trên đồi cao còn có nhiều khu rừng rậm rạp. Vài ba tháng sau, số thuyền nhân lên tới 40,000 người. Nhìn lên đồi đã thấy có nơi bị trọc vì thuyền nhân đốn cây để làm nhà và làm củi để nấu nướng. Nước ngọt và thực phẩm thì được Cao Ủy Ty Nạn Liên Hiệp Quốc cung cấp qua trung gian Hội Trăng Lưỡi Liềm Đỏ và chính phủ Mã Lai. Mã Lai là quốc gia có đa số dân theo Hồi Giáo nên không có Hội Hồng Thập Tự, mà có Hội Trăng Lưỡi Liềm Đỏ, hoạt động giống như Hội Hồng Thập Tự. Gặp những ngày biển động, thuyền nhân không được tiếp tế thì khốn khổ. Có nhiều nỗi khổ không thể diễn tả hết trên những trang giấy này. Nhưng, đặc biệt là mọi người được hưởng không khí tự do.

Bản Năng Sinh Tồn Của Người Việt Nam

Với một cái búa chẻ củi, người ta đã đốn cây rừng, xẻ dọc làm hai, vạt hai bên làm thành hai miếng ván dùng để đóng bàn ghế, đóng giường ngủ. Có ván, có nhựa cây rừng, họ có thể đóng thuyền để bơi ra khơi câu cá. Sau này, những chiếc thuyền mong manh này bơi xa hơn để mua những nhu yếu phẩm từ các tàu đánh cá của người bản xứ. Họ đem về bán lại cho thuyền nhân trên đảo Bidong. Từ những chiếc nhẫn vàng, dây chuyền, đồ trang sức,… họ đã đổi thành tiền Mã Lai.

Từ một hòn đảo không người ở, không thú vật, chỉ vài tháng sau Bidong đã có chợ chồm hổm, có quán cóc café. Việc đóng thuyền, bơi ra khơi, buôn bán,... tất cả là những thứ bị cấm, do luật của chính phủ Mã Lai đề ra. Nhưng người ta cũng cứ lén lút đóng thuyền rồi ra khơi đi khai phá. Chiếc thuyền này bị tịch thu thì chiếc khác lại hạ thủy ra khơi. Sức vươn dậy của con người Việt Nam được thể hiện rất rõ ở đây.

Bao nhiêu trí thức của miền Nam, ai vượt được trùng dương thì hầu như gặp nhau ở đây. Người ta tin rằng, nếu không gặp nhau ở đây thì chắc là đang ở tù cộng sản hay đã được thủy táng trong lòng đại dương.

Người ta mau chóng đội ngũ hóa. Họ dựng lên trường học dạy tiếng Anh, tiếng Pháp. Phòng thông tin, toán trật tự, toán cấp cứu,... cũng được thành lập nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu càng ngày càng nhiều. Các Hướng Đạo Sinh Việt Nam theo tiếng gọi đàn cũng đã lập thành từng đội, từng đoàn,… xung phong vào các công tác phụng sự.

Một miếng đất vào khoảng phân nửa cây số vuông (phân nửa khuôn viên Tòa Thánh Tây Ninh) mà có đến 40 ngàn người sinh sống trên đó. Họ xây chùa, xây nhà thờ, nhà nguyện. Họ đúc tượng và dựng đài tưởng niệm. Các bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ và cả những sinh viên y, nha, dược hầu như gặp nhau ở Bidong. Nhạc sĩ, ca sĩ, văn sĩ, thi sĩ, kỹ sư, kiến trúc sư, chuyên viên đủ các ngành nghề,... không biết bao nhiêu mà kể.

Thời điểm này là cuối thập niên 70, đầu thập niên 80, làn sóng người tỵ nạn cộng sản đang lên cao. Không biết bao nhiêu người gửi thân trong lòng biển. Đây cũng là thời điểm Hội Y Sĩ Không Biên Giới thành lập những bệnh viện nổi, đặt trên những con tàu và nhanh chóng ra khơi để cứu vớt thuyền nhân. Một trong những chiếc tàu đó là L’île de lumière (Đảo Ánh Sáng). Sau khi vớt thuyền nhân ở biển Đông, tàu này neo ngoài khơi đảo Bidong để làm bệnh viện chữa trị những ca đặc biệt. Sau đó, tất cả các dụng cụ y khoa đã để lại Bidong và cũng là lúc Bidong có đủ nguyên liệu và thiết bị để xây dựng bệnh viện trên đảo Bidong. Đó là bệnh viện Sick Bay; là kết quả trí tuệ và công sức của thuyền nhân Việt Nam; của những kiến trúc sư, kỹ sư, chuyên viên đủ loại. Tất cả những ai đã tốt nghiệp y, nha, dược khoa hay chỉ là sinh viên đang theo học các ngành này, đều xung phong phục vụ ở Sick Bay.

Trở Lại Câu Chuyện Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam

Trong hình, chúng ta có thể nhìn thấy chiếc trống đồng ở trung tâm, bao quanh bởi năm cánh buồm cao ngạo nghễ. Tượng đài tọa lạc một triền đồi ở phía nam đảo Bidong, với khoảng không gian rộng nhìn ra biển Đông. Bài thơ chữ Nôm được khắc trên một trong năm cánh buồm này.

Thầy Huy Bích kể lại, có một người tìm đến Thầy nhờ đọc bài thơ chữ Nôm. Bài thơ này đã được khắc trên Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân ở đảo Bidong mà họ ngờ ngợ không biết có chữ nào không đúng chăng? Thầy Trần Huy Bích là vị giáo sư am tường chữ Hán và chữ Nôm, nghe sự việc cũng muốn đọc để hiểu tâm tư thuyền nhân Việt Nam ở Bidong. Thầy đọc rồi mới thấy có chữ không có trong tự điển, nhưng cũng có thể đoán được. Thầy xin gặp tác giả bài thơ để trao đổi thêm mong tìm ra nguyên do những chữ ấy được dùng. Cụ tác giả nói rằng, cụ đã quên, không còn nhớ những chữ đó là gì.

Cụ kể lại, lúc trên đảo Bidong, ban xây dựng Đài Tưởng Niệm muốn có một bài thơ tiếng Nôm khắc trên đài. Người ta cậy nhờ cụ. Có chữ cụ nhớ rất rõ, có chữ cụ không nhớ nhưng nhờ có căn bản chữ Nôm, cụ đã chế biến vài chữ. Đến nay, cụ không còn nhớ chính xác bài thơ chữ Nôm, kể cả chữ quốc ngữ; nhưng cũng đồng ý với thầy Huy Bích để cuối cùng có được bài thơ, như thế này:

Nơi đây hương khói ngàn thu
Thuyền nhân tạm nghỉ trong mồ trùng dương
Buồm cao ghi dấu can trường
Trống thiêng gọi kẻ bốn phương tìm về.

Theo Thầy Trần Huy Bích, ở Việt Nam, chữ Nôm không thống nhất cho tất cả các địa phương. Nhiều khi phát âm giống nhau, nhưng chữ viết có thể khác. Ngày nay, bộ chữ Nôm đã dần dần được khôi phục trong bộ chữ Unicode; tuy chưa hoàn hảo nhưng cũng đủ để ghi lại một số những tài liệu lịch sử viết bằng chữ Nôm dưới dạng digital.

Hôm ấy, Thầy có kể rất nhiều chi tiết chung quanh bài thơ này nhưng vì tâm trí cứ lãng đãng về những kỷ niệm Bidong nên tôi đã quên đi một phần. Kính mong có dịp gặp lại thầy Huy Bích để hỏi thêm về bài thơ này.

Xin thân ái chia xẻ cùng quý thầy cô và anh chị em, nhất là quý vị từng tạm cư tại Pulau Bidong.

Michael Nguyen (Washington viết tháng Mười-2005, bổ túc vào tháng Mười-2024 nhân dịp kỷ niệm 50 năm Nam Việt Nam bị cộng sản đánh chiếm)

 

 

 

 




» more Cartoon Collections


» more Cartoon Collections